Thực trạng bãi biển Đồ Sơn : Khách tắm nước thải từ nhà hàng, quán nhậu

Bãi biển Đồ Sơn - Hải Phòng là khu du lịch nghỉ dưỡng nổi tiếng tuy nhiên tình trạng thiếu ý thức bảo vệ môi trường ở đây không còn là vấn đề xa lạ khi mà nhiều du khách chưa hết choáng váng về mùi hôi bốc lên bãi biển và khi lần theo thì đó là tư các hố cống thoát nước mặt bị quán nhậu, nhà hàng tận dụng xả thải ra bãi biển, gây ô nhiễm nghiêm trọng.

Nước cống đen ngòm xả thẳng ra biển

Gần đây, rất nhiều khách du lịch sau khi đến Đồ Sơn tham quan, nghỉ mát đã bức xúc phản ánh tình trạng nước gần khu vực Bến Thốc rất ô nhiễm. Họ cho hay nước biển khu vực này có màu đen, bốc mùi hôi thối, rác vô cơ, hữu cơ... tràn ra mặt biển. Cũng theo những du khách này thì nguồn gốc của tình trạng này là do một số nhà hàng kinh doanh dịch vụ ăn uống ở gần đó (có hàng chục nhà hàng, cơ sở ăn uống chỉ cách bờ biển từ 15 – 30m) lén lút xả thải ra biển.

Bà Nguyễn Thị Mùi (khách du lịch đến từ huyện Tiên Lãng – Hải Phòng) cho biết: “Gia đình tôi cuối tuần hay ra đây do nắng nóng, trẻ con thích chơi ở đây. Tuy nhiên phải ra xa để tắm vì nước gần bờ bẩn. Mà tắm xa bờ thì phải để mắt các cháu liên tục, đề phòng nguy hiểm. Ở gần bờ có mùi xú uế do các nhà hàng ăn uống xả nước thải, rác thải. Những người bán hàng rong ở ven biển: bán cua, ghẹ, mực... sau khi khách ăn xong... họ không thu gom mà xả ra biển”.

Một khách du lịch khác là ông Phạm Văn Hải chia sẻ: “Gần khu vực Bến Thốc có mấy cái cống, nước đen ngòm chảy ra biển. Dạo này, tôi xuống đây nhưng ít tắm ở bãi biển này”.

Mỗi khi mực nước biển xuống thấp, du khách có thể dễ dàng quan sát thấy từ các ống xả với đường kính 80cm – 100cm khu vực Bến Thốc, bãi biển khu 2 – Đồ Sơn, nước có màu đen ngòm, bốc mùi xú uế khó chịu. Thậm chí, vào những ngày cuối tuần khi lượng khách du lịch đông thì mức độ ô nhiễm càng nặng hơn. Nhiều thực khách khi ngồi ăn uống tại khu vực bờ biển đoạn Bến Thốc đều cảm thấy ngột ngạt vì mùi xú uế từ các cống này bốc lên.

Qua tìm hiểu, phóng viên Báo GĐ&XH được biết: Một số chủ nhà hàng đã lén đấu nối đường nước xả thải của nhà hàng mình với hệ thống tiêu thoát nước mặt (nước mưa) của quận Đồ Sơn để đổ trực tiếp ra biển. Hoạt động xả thải trộm này không khó để nhận biết vì trong những ngày nắng nóng, khi không có nước mưa nhưng từ cửa các cống thoát nước mặt vẫn có nước chảy. Nước chảy từ các cống này được dẫn thẳng ra biển thường có màu đen đặc, bốc mùi hôi thối, lẫn nhiều tạp chất. Chỉ cần lại gần khu vực cống là cảm thấy tức ngực, không thể thở nổi do mùi hôi thối bốc lên.

100% nhà hàng chưa đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải?




Chúng tôi đã có buổi làm việc cũng như đi khảo sát trực tiếp cùng với cán bộ Phòng TN&MT quận Đồ Sơn và đại diện phường Vạn Hương (gồm cả các nhà hàng xả thải đóng trên địa bàn phường).

Kết quả buổi khảo sát đã cho thấy, chỉ quanh khu vực Bến Thốc (khoảng chưa đầy 600m) đã có tới 3 cống xả (đường kính 80cm – 100 cm). Nước thải tại các cửa cống này đều đen ngòm, nỗi váng lờ đờ. Bằng mắt thường có thể rõ việc gây ô nhiễm môi trường và đối tượng xả thải chỉ quanh quẩn trong phạm vi gần đó. Tuy nhiên, cụ thể là nhà hàng nào xả ra thì lại khó xác định. Vì các đối tượng đấu nối ngầm đường nước nhà hàng mình vào hệ thống thoát nước chung. Muốn biết cụ thể để xử phạt thì phải tiến hành đào cả hệ thống đường ống, cống ngầm tiêu thoát nước lên.

Qua kiểm tra 4 nhà hàng (với lượng khách trung bình mỗi ngày hơn 100 khách), nhà hàng nào cũng cho biết là họ “có hệ thống thoát nước thải và tất cả đều dẫn vào bể phốt”. Họ còn khẳng định trung bình một năm hút bể phốt 1 - 2 lần. Tuy nhiên, trước các câu hỏi liên quan như bể phốt nhà hàng mình có diện tích bao nhiêu thì không ai biết? Mỗi lần hút xong, nước thải tạp chất được đổ đi đâu... cũng chưa rõ?

Một chủ nhà hàng (xin được giấu tên) cho biết: 100% nhà hàng quanh Bến Thốc đều chưa có hệ thống xử lý nước thải trước khi đổ ra cửa xả. Có trường hợp xả trực tiếp, có trường hợp tự ngấm qua đất được tý nào hay tý đó... Còn ông Trịnh Văn Tuyến, Chủ nhà hàng Thanh Niên ở phường Vạn Hương, quận Đồ Sơn chia sẻ: “Không phải tất cả các nhà hàng ở đây đều xả thải (thẳng vào hệ thống tiêu thoát nước mặt), mà chỉ có một số hộ. Chính vì các đối tượng lén lút xả thải bẩn như vậy đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới những cơ sở kinh doanh khác như chúng tôi. Nước bẩn, ô nhiễm, bốc mùi thì khách đến ít hơn. Chúng tôi bị ảnh hưởng nhiều tới kinh doanh”.

Sống chung với ô nhiễm nên đổ bệnh vì rác thải

Ô nhiễm môi trường không qua xử lý triệt để khiến người dân ở khu vực Thừa Thiên-Huế và Đà Nẵng than trời kêu đất..

Hôi đến ngao ngán !

“Nguồn nước ở đây bị ô nhiễm nghiêm trọng theo lời 1 người dân ở đây thì không dám sử dụng nước giếng đóng từ 5-6 năm nay rồi. Mặc dù được thành phố kéo nước máy từ cầu Đỏ về dùng vì người dân nơi đây đa số khó khăn nên chỉ được miễn phí mỗi khẩu 1m3.Nhưng từ đầu năm 2015 đến nay, chúng tôi nhận được thông báo là phải trả tiền nước, không được sử dụng miễn phí nữa, mà không nhận được giải thích nào. Nhiều cuộc họp tôi đại diện người dân trong tổ hỏi, thì cũng chỉ nhận được câu trả lời là phải trả tiền, vậy thôi, không giải thích gì thêm”, ông Thành nói.
D.H


Đến khu dân cư Khánh Sơn 1 và Đà Sơn (P.Hòa Khánh Nam, Q.Liên Chiểu, TP.Đà Nẵng) vào ngày nắng cao độ, mặc dù còn vài cây số nữa mới tới bãi rác, nhưng mùi hôi thối khiến chúng tôi cảm thấy choáng váng.
Bà Nguyễn Thị Thao, người dân tổ 170, khối Khánh Sơn 1 cười như mếu: “Đó là cô đến đây vào mùa nắng, mùi hôi thối đã giảm 100 lần rồi. Cứ đến đây vào những chiều mưa giông, hay vào mùa mưa, là “thấm” liền, chắc cũng ngất xỉu !”.
Để minh chứng về mức độ ô nhiễm của nơi này, ông Phạm Công Thành, Tổ trưởng tổ 170 bực bội dẫn chúng tôi vào tận khu vực nước rỉ rác đã qua xử lý đổ lộ thiên ra ngoài môi trường. Thật khó hình dung đây là nước rỉ rác đã qua xử lý. Mặt nước nổi váng, đen kịt, hôi thối vô tư xả ra khu vực dân cư không theo một đường ống khép kín nào.
Ông Thành vừa bịt mũi, vừa cho hay, dòng nước thải chưa qua xử lý này được dẫn ngược về khu vực TP, rồi thải ra biển, nên nhiều nơi bị hôi thối mà không hề hay biết nước hôi thối từ đâu đổ về. Mấy tháng gần đây, người dân Khánh Sơn 1 đứng ngồi không yên bởi một xe chở rác thải không qua xử lý lên bãi rác.
“Không hiểu họ chở cái gì, mà cứ chạy lên là nước rỉ xuống mặt đường, mùi hôi thối đến long cả óc, kéo dài cả tiếng đồng hồ không ai dám hé cửa ra. Nhưng khi báo lên chính quyền thì họ nói phải bắt được tận tay thì mới xử. Mà dân thì sao đi bắt xe được! “Vô bươi rác cũng không hôi bằng ở dưới khu dân cư ni, nước rỉ rác cứ chảy vô, tội nhất mấy đứa trẻ học sinh, toàn nhà nghèo, trời mưa đi học cứ lội vô mấy cái nước thải đó, sao mà không mắc bệnh được”, anh Trần Hoàng Long, một người dân sống ở khu vực này bức xúc.
Ngửi rác thành thị
Cùng cảnh ngộ, từ nhiều năm qua, người dân P.Thủy Phương (TX.Hương Thủy, Thừa Thiên-Huế) và một số vùng lân cận đã phải gồng mình hứng chịu ô nhiễm rác thải, bụi bặm từ các nơi đổ về. Dì Thương (tổ 12, P.Thủy Phương) chủ 1 quán ăn đưa cho chúng tôi xem những miếng dán bẫy đen kịt ruồi chết. Mỗi ngày, dì Thương phải tốn ít nhất 10 miếng dán như thế mới hạn chế ruồi vào thức ăn.
“Các đoàn về tiếp xúc cử tri người dân đã nhiều lần phản ánh tình trạng hôi thối, nguồn nước ô nhiễm từ các bãi rác, từ nhà máy xử lý rác Thủy Phương. Người dân, UBND phường, UBND thị xã đều có kiến nghị cấp trên xử lý dứt điểm, nhưng bao năm qua hầu như không cải thiện được”, Tổ trưởng tổ 12, ông Nguyễn Đình Thụy ngao ngán.


Xà bần, bùn cống đổ bên khe Răm ở ngoài bãi rác được quy hoạch của Hepco 

Theo ông Thụy, điều đáng ngại nhất là cứ vào mùa mưa nguồn nước thải không qua xử lý từ khu vực nhà máy xử lý rác Thủy Phương (thuộc Công ty CP đầu tư-phát triển Tâm Sinh Nghĩa, Chi nhánh Huế) xả thẳng ra môi trường qua khe Ngang.
“Ở tổ 12 hiện có gần 300 hộ dân với trên 1.000 người, nhưng mới chỉ có 60% số hộ có nước máy để dùng, 40% còn lại dùng nước giếng hoặc khe suối cho ăn uống, sinh hoạt. Cứ tiếp tục tình trạng này thì bệnh tật sẽ ngày càng tăng”, ông Thụy lo lắng.
Ngoài ra, một lượng lớn xà bần, bùn cống được xe thu gom vệ sinh môi trường vận chuyển từ TP.Huế về đổ vào những bãi rác tự phát nằm trên khe Răm.
Đây cũng là khu vực đầu nguồn sông Hương, bùn và nước bẩn theo đó chảy về xuôi sẽ gây nên ô nhiễm trầm trọng.
Chờ đến bao giờ?
Nhà máy xử lý rác thải Thủy Phương chính thức hoạt động năm 2007, hằng ngày tiếp nhận và xử lý từ 180-200 tấn rác thải. Tuy nhiên, hơn một tháng trở lại đây, nhà máy tạm ngừng tiếp nhận rác thải để cải tạo, nâng cấp nên buộc lòng Hepco phải xử lý nguồn rác thải bằng cách chôn lấp ở bãi rác gần nhà máy khiến người dân càng lo ngại về tình trạng quá tải và gia tăng ô nhiễm.
Trong khi đó, mỗi ngày bãi rác Khánh Sơn (TP.Đà Nẵng) tiếp nhận 700 tấn với rác thải công nghiệp, sinh hoạt và cả rác thải y tế. Lượng chất thải vô cùng lớn, nhưng công nghệ xử lý hiện tại không còn phù hợp, do vậy vẫn phát tán mùi hôi thối, ảnh hưởng đến cộng đồng.
Trao đổi với PV, ông Nguyễn Điểu, Giám đốc Sở TN-MT TP.Đà Nẵng cho hay, cùng với việc đầu tư một hệ thống xử lý nước thải 100 tỉ do TP đầu tư, có thêm dự án tái chế rác do Công ty CP Môi trường VN chuẩn bị đi vào hoạt động, góp phần làm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm.
Theo ông Nguyễn Văn Tuấn, TGĐ Công ty CP Môi trường VN, giai đoạn 1 của dự án tái tạo năng lượng từ rác thải sẽ chính thức khánh thành vào cuối tháng 6.2015, trên diện tích 4ha, với tổng kinh phí đầu tư hơn 300 tỉ đồng. Trong giai đoạn 1 này, 200 tấn rác thải mỗi ngày sẽ thành những chế phẩm như than bón cây công nghiệp; than sử dụng cho các lò đốt công nghiệp; dầu PO, FO, gạch block...

Khắc phục vi phạm xả thải cơ sở nước chấm Bình Dương

Việc xả thải trực tiếp ra môi trường vừa được cơ sở nước chấm Bình Dương, tại xã Lạc Xuân, huyện Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng tự khắc phục vào ngày 15/5 trước sự có mặt của các cơ quan chức năng.

Trước đó, vào ngày 5/5/2015 Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an Lâm Đồng phát hiện hệ thống xử lý nước thải cơ sở nước chấm Bình Dương công suất 80m3/1 ngày đêm trong tình trạng không hoạt động.

Đáng chú ý, cơ sở còn có 3 bể nước thải cùng dung tích 36m3 được cấu tạo van xả đáy kích thước 114 mm. Khi thực nghiệm mở van thì nước thải trong các bể này chảy trực tiếp ra con suối trong khu vực.

Sau khi làm việc, ông Hồ Nghĩa, chủ cơ sở đã thừa nhận hành vi và xin được tự nguyện khắc phục. Cụ thể cơ sở đã cho sửa chữa hệ thống xả thải, đồng thời đổ bê tông các đường cống phía dưới các đáy hồ chứa nước thải.

Việc khắc phục có sự chứng kiến của phòng tài nguyên môi trường huyện Đơn Dương và phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh Lâm Đồng./.


TPHCM nước thải từ cống gây ô nhiễm môi trường tại khu vực kênh Tân Hóa - Lò Gốm

Hiện trạng nước thải từ các cống rãnh tràn vào hẻm 402 ngay sát khu vực kênh Tân Hóa Lò Gốm, TPHCM đã gây ra nhiều bất cập cho người dân tại khu vực nơi đây. Mặc dù người dân đã nhiều lần phản ánh nhưng tình trạng này vẫn chưa được giải quyết.

Người dân trong con hẻm 402 đã phải khổ sở gồng mình chịu đựng cảnh nước thải trong hẻm không thoát đi và gây ùn ứ trong hẻm suốt bao lâu nay.

Dòng nước thải hôi thối tại đây là nơi lý tưởng của nhiều dịch bệnh gây ảnh hưởng lớn tới đời sống của người dân tại khu vực này. Không những gây ngập ún trong lối đi của hẻm mà nước thải còn tràn vào nhà của số hộ dân tại nơi đây gây ra nhiều khó khăn trong sinh hoạt thường ngày.

Người dân đã nhiều lần phản ánh lên các cấp chính quyền và đơn vị thi công cống thoát nước tại đây nhưng tình trạng ùn ứ nước thải cục bộ tại hẻm vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng cho người dân trong con hẻm này.

Thiết nghĩ các cơ quan chức năng và đơn vị quản lý công trình tại đây cần sớm giải quyết tình trạng ngập ún tại đây để cải thiện môi trường sống của người dân tại con hẻm này

Cải thiện môi trường ô nhiễm bằng hợp tác quốc tế

Tình hình kinh tế ở Tp Hồ Chí Minh đang trong giai đoạn phát triển tuy nhiên tình trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn vẫn đang có chiều hướng gia tăng , trước kia tuy có ô nhiễm những không ảnh hưởng nghiêm trọng trái với tình hình bây giờ có khả năng ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và cải thiện dân sinh, để bảo đảm tình trạng này không tái diễn thành phố Hồ Chí Minh đã huy động nhiều nguồn lực để giải quyết vấn đề nhức nhối này.
Cấp bách giải quyết những điểm nóng

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM, hiện TPHCM đang phải đối mặt với nhiều thách thức như ngập úng đô thị, suy giảm chất lượng nước mặt và nước ngầm, ùn tắc giao thông, lượng chất thải rắn đô thị lớn… Để có thể cải thiện thực trạng này, rất nhiều giải pháp cần thực hiện sớm và đồng bộ. Cụ thể, thiết lập một kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng năng lượng hiệu quả, nâng cao hiệu quả sử dụng nhiên liệu trong giao thông vận tải; quản lý nguồn nước bền vững; xử lý nước thải công nghiệp, quy hoạch đô thị và quản lý chất thải; ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý chất thải nguy hại và dự án thu hồi năng lượng từ rác trong lĩnh vực quản lý chất thải; xử lý bùn thải từ các nhà máy xử lý nước.




Doanh nghiệp Việt Nam được Nhật Bản hỗ trợ sản xuất theo hướng giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Ảnh: CAO THĂNG

Ông Đào Anh Kiệt, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM, cho biết, trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, toàn TP đã thực hiện nhiều công trình hạ tầng góp phần giảm thiểu lượng khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu, như tăng diện tích cây xanh và mặt nước, sử dụng điện một cách có hiệu quả trong sản xuất và sinh hoạt, phát triển năng lượng tái tạo (mặt trời, gió và sinh học), xây dựng hệ thống xe buýt sử dụng khí sinh học, triển khai việc sử dụng xăng sinh học E5, giảm lượng nước sạch rò rỉ, xử lý nước thải, chất thải rắn, sử dụng vật liệu không nung…, góp phần làm giảm hàng trăm ngàn tấn CO2 mỗi năm. Các hoạt động thực hiện kế hoạch hành động thích ứng với biến đổi khí hậu của TP đang tạo nên các tiền đề tích cực cho giai đoạn tiếp theo như chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn ở quận 1, dự án xây dựng nhà máy đốt chất thải rắn phát điện…

Tăng cường hợp tác quốc tế

Cũng theo ông Đào Anh Kiệt, song song với nội lực tự cải thiện chất lượng môi trường, TP còn tận dụng đáng kể nguồn ngoại lực thông qua các chương trình ký kết, hợp tác với nhiều quốc gia trên thế giới để được hỗ trợ giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Điển hình như chương trình hợp tác giữa TPHCM và TP Osaka (Nhật Bản) trong việc triển khai dự án “Phát triển thành phố carbon thấp”. Dự án cho phép tính toán chính xác mức độ phát thải CO2 của TP. Nguyên nhân phát sinh nguồn thải. Từ đó, xác định mục tiêu giảm thiểu phát thải và đề xuất chính sách, giải pháp hành động để đạt mục tiêu trên. Ngoài ra, với cơ chế tín dụng chung (JCM - Joint Crediting Mechanism) đã được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam được hỗ trợ tài chính để đổi mới hoạt động sản xuất theo hướng giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Ông Trần Hồng Hà, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhấn mạnh, trong thời gian qua, hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu ngày càng được mở rộng và phát triển mạnh mẽ, đa dạng với các chương trình, hoạt động, các dự án có tính thực tế cao. Nhật Bản là một trong những nhà tài trợ hàng đầu cho Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu. Việt Nam và Nhật Bản đã ký kết Thỏa thuận hợp tác về cơ chế tín chỉ chung JCM. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ của Chính phủ Nhật Bản để có được các công nghệ tiên tiến, ít phát thải carbon, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Phía Nhật Bản đã đưa các chuyên gia, trung tâm sang Việt Nam để tư vấn, hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận công nghệ sản xuất tiên tiến. Đồng thời, hỗ trợ tài chính để các doanh nghiệp Việt Nam có thể đầu tư. Điều đặc biệt là doanh nghiệp Việt Nam có thể chi trả chi phí hỗ trợ đầu tư đổi mới công nghệ cho phía Nhật Bản bằng chính chi phí năng lượng tiết kiệm được từ việc sử dụng công nghệ hiện đại, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong công tác bảo vệ môi trường, phát huy mô hình trên, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ xúc tiến tăng cường sự hợp tác không chỉ giữa cấp thành phố với thành phố, mà còn cần có sự hợp tác giữa các trung tâm nghiên cứu và đào tạo, giữa các doanh nghiệp và giữa các cụm dân cư với nhau. Việt Nam nói chung và TPHCM nói riêng cần tranh thủ sự hỗ trợ về khoa học, công nghệ ít phát thải nhà kính của các nước trên thế giới. Điều này sẽ góp phần quan trọng cho việc xây dựng xã hội ít phát thải carbon.

- See more at: http://www.sggp.org.vn/moitruongdothi/2015/1/373974/#sthash.6itaaZ3r.dpuf

Những thách thức và khó khăn mới khi nâng cao hiệu quả khu CN,KKT

Phát triển các khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT) ở Việt Nam trong 24 năm qua đã cho chúng ta nhiều bài học về sự thành công, thu được nhiều thành tựu nhưng cũng còn không ít bất cập và khó khăn. Thực tế phát triển các khu này đang đặt ra nhiều thách thức mới…
Trong 24 năm vừa qua sự phát triển các khu kinh tế (KKT) , khu công nghiệp (KCN) đã khiến cho chúng ta có rất nhiều kinh nghiệm, bài học cũng như những thành tựu tuy nhiên khó khăn phải trải qua cũng không ít. Đi kèm với sự phát triển đó là những thách thức mới đang chờ đón...
Báo động về ô nhiễm môi trường

Khu công nghiệp Tằng Loỏng thuộc huyện Bảo Thắng đã được tỉnh Lào Cai coi là “biểu tượng” của sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa địa phương. KCN này đã giải quyết được khá nhiều lao động và có đóng góp không nhỏ vào ngân sách của tỉnh. Thế nhưng, do quy hoạch chắp vá theo kiểu “vừa chạy vừa xếp hàng”, nên kể từ khi hình thành cho đến nay, Tằng Loỏng vẫn đang là điểm “nóng” về gây ô nhiễm môi trường. Các nhà máy trong KCN này trước khi xây dựng đều có báo cáo đánh giá tác động môi trường, hoặc bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường đều được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Nhưng chất lượng lập và thẩm định các báo cáo chưa phù hợp với thực tế. Đặc biệt, công nghệ sản xuất hóa chất, luyện kim tại Khu công nghiệp Tằng Loỏng hầu hết đều dùng công nghệ tương đối lạc hậu, nên ô nhiễm môi trường là khó tránh khỏi.


Khu công nghiệp có nhà ở xã hội cho công nhân thuê như Đặng Xá (Gia Lâm, Hà Nội) còn quá ít.

Tình trạng KCN, KKT gây ô nhiễm môi trường như Tằng Loỏng không phải là cá biệt. Theo Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), ô nhiễm môi trường ở các KCN, KKT ở nước ta hiện nay, chủ yếu là do sự ô nhiễm từ môi trường nước, không khí, từ chất thải rắn là chủ yếu. Trong đó, ô nhiễm môi trường nước do nước thải từ KCN trong những năm gần đây là rất lớn, tốc độ gia tăng này cao hơn rất nhiều so với tổng nước thải từ các lĩnh vực khác. Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tỷ lệ các KCN có trạm xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm 66%, nhiều KCN đã đi vào hoạt động mà hoàn toàn chưa triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ hoặc có nhưng không vận hành, hay vận hành không hiệu quả hoặc xuống cấp. Trong khi đó, theo ước tính có khoảng 70% trong tổng số hơn một triệu mét khối nước thải ngày, đêm phát sinh từ các KCN được xả thẳng ra nguồn tiếp nhận mà không qua xử lý.

Đất trong KCN, KKT để hoang hóa còn lớn

Nếu ai có dịp đi qua Quốc lộ 5 (Hà Nội-Hải Phòng) sẽ thấy bên đường có khá nhiều KCN, nhưng diện tích đất để cỏ hoang mọc trong các KCN này khá lớn.

Trong báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra tại cuộc họp Ban chỉ đạo về phát triển KCN, KKT lần thứ 5 diễn ra mới đây do Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì, một danh sách với hàng loạt KCN kém hiệu quả, trong diện “báo động” đã được nhắc tới. Đặc biệt, có một số KCN hiện vẫn chưa chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất lúa sang KCN.

Cũng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sau thời gian phát triển nóng, hiện nay tỷ lệ lấp đầy các KCN bình quân của cả nước chỉ vào khoảng 65%. Những vùng có hạ tầng tốt như Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng thì thu hút đầu tư rất tốt, nhưng những vùng mà cơ sở hạ tầng còn yếu kém thì việc thu hút các dự án vào các KCN gặp không ít khó khăn. Trước năm 2009, các KCN ở các địa bàn được coi là khó khăn đều được hưởng các ưu đãi tương đương các địa bàn khó khăn; thuế suất sẽ giảm hơn thuế suất trung bình cho doanh nghiệp. Nhưng sau năm 2009, khi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ban hành thì không còn ưu đãi này nữa. Điều này làm giảm tính hấp dẫn thu hút đầu tư vào KCN. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng e ngại về chi phí tiền thuê đất, đầu tư xây dựng hạ tầng và chi phí các dịch vụ liên quan.

Thiếu nhà ở cho công nhân

Số liệu thống kê cho thấy, trong hơn 2,4 triệu lao động làm việc tại các KCN, KKT thì có đến hơn 70% là lao động ngoại tỉnh đến từ các vùng nông thôn dẫn đến sức ép về nhà ở, quỹ đất để xây dựng nhà ở cho công nhân trong các KCN, KKT rất cao.

Theo khảo sát của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, hiện mới chỉ có khoảng 20% công nhân lao động trong các KCN, KKT có chỗ ở ổn định, số còn lại vẫn đang phải thuê chỗ ở tạm. Đa số công nhân ngoại tỉnh làm việc tại các KCN, KKT trên cả nước đều phải thuê nhà trọ của tư nhân. Các phòng trọ thuê của tư nhân hầu hết đều rất chật hẹp (diện tích sử dụng bình quân từ 2-3m2/người), điều kiện vệ sinh, môi trường không bảo đảm.

Hiện TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai chỉ mới giải quyết được khoảng 10% số công nhân có nhu cầu về nhà ở. Nhà trọ xung quanh các KCN của Đồng Nai, Bình Dương có những phòng chỉ rộng 12m2. Điều kiện vệ sinh ở các khu nhà trọ thiếu thốn, đơn điệu, cũ và xuống cấp. Tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, các cơ quan chức năng của hai thành phố lớn nhất nước cũng đã có nhiều cố gắng để xây dựng nhà ở xã hội bán hoặc cho công nhân thuê, nhưng số lượng vẫn còn quá ít so với nhu cầu của công nhân trong các KCN, KKT.

Theo quy hoạch phát triển các KCN, KKT ở Việt Nam, đến năm 2020 tổng số công nhân, lao động tại các KCN, KKT đạt khoảng 7,2 triệu. Số công nhân, lao động tại các KCN, KKT cả nước có nhu cầu về chỗ ở đến năm 2020 là khoảng 4,2 triệu người, tương đương khoảng 33,6 triệu mét vuông nhà ở. Để đạt được mục tiêu này quả là thách thức rất lớn cho các địa phương có KCN, KKT.

Để góp phần giải quyết nhà ở cho công nhân tại các KCN, KKT, tiến sĩ Nguyễn Chơn Trung, nguyên Trưởng ban quản lý Khu công nghiệp-khu chế xuất TP Hồ Chí Minh (Hepza) cho rằng, quy hoạch KKT, KCN phải đồng bộ và gắn với việc xây dựng khu đô thị mới.

Nhiều nhà máy xử lý nước thải được đề xuất xây dựng

Nhà máy xử lý nước thải Suối Nhum tại phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh với công suất 65.000 m3/ngày đêm được đề xuất bởi liên danh kết hợp các nhà đầu tư gồm công ty TNHH Xây dựng và thương mại Phú Xuân và công ty CP Đầu tư và phát triển Môi Trường SFC Việt Nam đệ trình lên Ủy ban nhân dân Tp Hồ Chí Minh.
Theo văn bản đề xuất của liên danh SFC-Phú Xuân, dự án nhà máy xử lý nước thải rạch Suối Nhum có tổng vốn đầu tư gần 523 tỉ đồng sẽ giúp xử lý nước thải lưu vực thoát nước Suối Nhum, lưu vực tiêu thoát nước suối Xuân Trường, một phần lưu vực tiêu thoát nươc Suối Cái, suối Gò Cát.

Hình thức đầu tư được liên danh đề xuất cho dự án này là xây dựng – chuyển giao (BT) kết hợp hình thức xây dựng – vận hành – chuyển giao (BOT). Liên danh đề xuất thời gian khởi công dự án vào tháng 6-2015 và hoàn thành đưa vào sử dụng vào tháng 8-2016.

Liên danh SFC-Phú Xuân cũng đề xuất phương thức thanh toán là thành phố thanh toán giá (phí xử lý nước thải) dựa trên lượng nước thải được xử lý theo tiêu chuẩn quy định, dự kiến tổng chi phí vận hành, bảo dưỡng và giá nước thải để thu hồi vốn là 3.700 đồng/m3, sau chu kỳ 3 năm tăng 10%.

Được biết, hiện nay nước thải theo lưu vực Suối Nhum đổ ra sông Đồng Nai vốn là nguồn cấp nước chính cho sản xuất và sinh hoạt của người dân TPHCM, Biên Hòa và các khu dân cư khác.

Theo đại diện Trung tâm Điều hành chống ngập nước TPHCM, hiện thành phố mới có 2 nhà máy xử lý nước thải hoạt động, gồm nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng công suất giai đoạn 1 là 141.000 m3/ngày; nhà máy nước thải Bình Hưng Hòa công suất 30.000 m3/ngày trong khi mỗi ngày thành phố thải ra tới 2 triệu mét khối nước thải.

Theo đại diện Trung tâm Điều hành chống ngập nước TPHCM, trong năm 2015 này dự kiến có thêm hai công trình xử lý nước thải cho TPHCM khởi công xây dựng gồm giai đoạn 2 nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng nâng công suất từ 141.000 lên 469.000 m3/ngày; nhà máy xử lý nước thải Nhiêu Lộc – Thị Nghè công suất giai đoạn 1 là 480.000 m3/ngày với tổng vốn đầu tư khoảng 478 triệu đô la Mỹ.

Hiện nay tỷ lệ xử lý nước thải đô thị của TPHCM rất thấp, mới đạt 13,2% tổng lượng nước sinh hoạt. TPHCM đang kêu gọi đầu tư xây dựng 12 nhà máy xử lý nước thải với tổng lượng nước thải cần xử lý khoảng 3 triệu m3/ngày.

Năng lượng mặt trời được áp dụng trong hệ thống xử lý nước thải bệnh viện

Hệ thống xử lý nước thải bệnh viện được công ty CP khoa học công nghệ Petech (quận 10, thành phố Hồ Chí Minh) nghiên cứu , thiết kế thành công hệ thống tích hợp năng lượng mặt trời. Hệ thống tân tiến này được thiết kế, lắp đặt và vận hành tại bênh viện chợ Rẫy, quận 5, thành phố HCM cụ thể là tại khu nhà Vĩnh Biệt.

KS. Phan Trí Dũng, chủ tịch hội đồng quản trị Công ty Petech, tác giả của hệ thống xử lý nước thải bệnh viện này cho biết, hệ thống xử lý chủ yếu bằng công nghệ sinh học (công nghệ BIOFAST - SP, Solar Power). Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện gồm: Vi sinh yếm khí (2 container), vi sinh hiếu khí (1 container), khử trùng (1 container), khử mùi (1 module catalyst). Hệ thống có công suất xử lý: 60 m3/ngày. Trong quá trình xử lý nước thải bệnh viện, KS. Phan Trí Dũng và nhóm cộng sự đã sử dụng ozon và thiết bị khuếch tán khí (aerator) có hiệu quả cao, giúp tiết kiệm được 60% điện năng so với các thiết bị thổi khí công nghệ cũ. Nước thải y tế tại khu vực này có nồng độ ô nhiễm cao (các khâu rửa và tẩy uế tử thi tại khu Nhà vĩnh biệt), nhưng sau khi qua hệ thống xử lý nước thải bệnh viện đã đạt mức I TCVN 7382:2004.

Hệ thống có công suất tải tiêu thụ điện tối đa: 2 KVA. Quy trình xử lý theo mẻ (15 m3/mẻ x 4 = 60 m3/ngày). Hệ thống điều khiển - vận hành và giám sát hoàn toàn tự động bằng máy tính công nghiệp (RmS - Remote mutual SCADA). Chương trình điều khiển này do nhóm kỹ sư của Công ty Petech thực hiện. Một điểm mới của hệ thống này là sử dụng hoàn toàn bằng năng lượng mặt trời (các tấm pin mua của Công ty Mặt trời đỏ - một doanh nghiệp KHCN trong nước). Công suất pin mặt trời: 2 KWp (gồm 6 panel). Dung lượng tích trữ của accu: 120 Ah/24 V. Các chế độ tiêu thụ điện của hệ thống tốn rất ít điện năng, nên có thể vận hành chủ yếu bằng năng lượng mặt trời (vận hành: chờ đủ mẻ 100 W, xử lý hiếu khí 1.500 W (2 giờ/mẻ), ozon: 500 W (2 giờ/mẻ), khử trùng: 50 W). Chỉ khi nào phải xử lý nhiều nước thải bệnh viện và gặp những lúc trời mưa nhiều, ít nắng, nguồn điện từ pin mặt trời không đủ đáp ứng thì hệ thống sẽ tự động kết nối sử dụng nguồn điện từ lưới điện quốc gia.

KS. Phan Trí Dũng cho hay, do sản xuất bằng từng khối modul nên thời gian thi công lắp đặt và đưa vào sử dụng ngắn (khoảng 10 ngày). Hệ thống dễ dàng tháo lắp di dời sang nơi khác khi cần thiết. Toàn bộ hệ thống do Công ty Petech sản xuất (theo công nghệ Norweco - USA), tỷ lệ nội địa hóa đạt đến 90%.

Trước đó Công ty Petech cũng đã lắp đặt hệ thống xử lý nước thải bệnh viện bằng công nghệ BIOFAST - SP (Solar Power) tại Trung tâm y tế quận I, TP.HCM. Ngoài ra hệ thống xử lý nước thải này đã được lắp đặt tại Kiên Giang, huyện đảo Phú Quốc, Quảng Trị, Vĩnh Long, Bình Thuận, Phú Thọ, Gia Lai...

Trạm xử lý nước thải y tế hiện đại nhất cả nước đã được vận hành

Hệ thống xử lý nước thải y tế tại bệnh viện chợ rẫy vừa được xây dựng theo công nghệ Nhật Bản với công suất 4000m3/ngày được xem là công trình hiện đại nhất cả nước vừa chính thức đi vào hoạt động. Đây là một công trình cực kỳ có ý nghĩa vì nước thải y tế từ các phòng khám, bệnh viện gây ô nhiễm cực kỳ nghiêm trọng đến môi trường và thực tế là hầu hết các nước thải y tế đều chưa qua xử lý triệt để , đang dần dần tàn phá môi trường sống của người dân.


Trạm xử lý nước thải hơn 90 tỷ đồng đã được đưa vào sử dụng tại Chợ Rẫy

Là bệnh viện được xếp vào hạng đặc biệt của cả nước, Chợ Rẫy đi tiên phong trong hoạt động xây dựng hệ thống xử lý nước thải y tế . Ngày 11/3 bệnh viện đã khánh thành trạm xử lý nước thải y tế tập trung công suất 4.000m3/ngày đêm với kinh phí xây dựng trên 90 tỷ đồng. Đây là công trình sử dụng công nghệ AAO của Nhật Bản, công nghệ này kết hợp nhiều quá trình xử lý các chất ô nhiễm hữu cơ bằng vi sinh, đảm bảo xử lý nước thải y tế được triệt để theo tiêu chuẩn cao nhất đối với nước thải bệnh viện, chi phí vận hành thấp và ổn định, trình độ tự động hóa cao…

Hiện nay, công nghệ AAO đã được ứng dụng tại nhiều bệnh viện trên thế giới nhưng tại Việt Nam mới chỉ được ứng dụng tại một số khu công nghiệp và đô thị. Trong lĩnh vực Y tế, Chợ Rẫy là bệnh viện đầu tiên thí điểm hệ thống xử lý nước thải y tế theo công nghệ này. Được biết, mỗi ngày bệnh viện thải ra hơn 2.500m3 nước, việc đưa vào sử dụng trạm xử lý nước thải với công nghệ hiện đại góp phần làm sạch môi trường, đảm bảo sức khỏe cho người bệnh và người dân thành phố nói chung.

Cùng ngày, bà Nguyễn Thị Kim Tiến Bộ trưởng Bộ Y tế đã trao tặng năm xe ô tô loại bảy chỗ cho Văn phòng Cơ quan Bộ Y tế khu vực phía nam cùng các bệnh viện: Nhân Dân Gia Định, Ung Bướu, Nhi Đồng 1 và Răng Hàm Mặt với tổng kinh phí phí trên năm tỷ đồng do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam tài trợ. Đây là hoạt động nhằm nâng cao trang thiết bị phục vụ công tác cho các đơn vị y tế.

Bao giờ giải quyết được vấn đề ô nhiễm ở các cụm công nghiệp,khu công nghiệp

Việc xử lý ô nhiễm của toàn bộ lượng nước thải các khu công nghiệp không hề đơn giản trong khi đó thành phố Hà Nội đang nỗ lực hết sức hướng tới mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 các khu công nghiệp , cụm công nghiệp và các khu chế xuất, cả các khu công nghệ cao đều phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung.

Hướng đi trước mắt

Nghị quyết số 18/2012/NQ-HĐND (ngày 7-12-2012) của HĐND TP Hà Nội về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 đã nêu rõ chỉ tiêu số 21. Cụ thể, tỷ lệ CCN có trạm xử lý nước thải cụm công nghiệp đạt tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng: Đối với CCN xây dựng mới là 100%; đối với các CCN đã đi vào hoạt động là 50%. Trên cơ sở đó, Sở Công thương Hà Nội đã trình UBND thành phố triển khai kế hoạch đầu tư xây dựng hệ thống nước thải tập trung tại 14 CCN năm 2013 để đạt được tỷ lệ 21/42 (chiếm 50%) CCN đã đi vào hoạt động có hệ thống xử lý nước thải khu công nghiệp tập trung bởi vì đến nay, 7 CCN đã đạt tiêu chí này.




Theo kế hoạch, năm 2013, Hà Nội đặt ra mục tiêu xây dựng hệ thống XLNT tại 4 CCN Kim Chung, Phú Thị, Bình Phú, Hai Bà Trưng và dự kiến sẽ đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải công nghiệp tại 10 CCN theo đề án đầu tư xây dựng hệ thống XLNT tập trung sau khi được UBND thành phố phê duyệt. Sở Công thương đã tiến hành kiểm tra, khảo sát và làm việc với UBND 4 quận, huyện. Kết quả, chủ đầu tư hai cụm Phú Thị (Gia Lâm), Bình Phú (Thạch Thất) vẫn đang thực hiện giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Riêng cụm Hai Bà Trưng, đề nghị không triển khai do đã có chủ trương chuyển đổi công năng và không còn quỹ đất. CCN Kim Chung (Hoài Đức) được đề nghị chuyển đổi sang xây dựng tại CCN Lại Yên.

Hiện tại, 5 CCN đã xây dựng hệ thống XLNT là Hà Bình Phương (công suất 500m3/ngày đêm), thị trấn Phùng (công suất 400m3/ngày đêm), Ngọc Hồi (công suất 1.800m3/ngày đêm), Duyên Thái (công suất 250m3/ngày đêm) và Từ Liêm (công suất 3.500m3/ngày đêm). Và chỉ có 7 CCN đang xây dựng hệ thống XLNT tập trung nhưng đang gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn, tiến độ triển khai chậm, chi phí vận hành lớn và khả năng thu hồi vốn sau đầu tư khó.

Ông Ngô Thái Nam, Phó Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường Hà Nội, cho biết trong tổng số 101 CCN trên địa bàn hiện nay, có tới 28 CCN có quy hoạch hệ thống xử lý nước thải khu công nghiệp nhưng chưa triển khai đầu tư xây dựng và còn tận 61 CCN không quy hoạch hệ thống xử lý nước thải. Đáng lưu ý, trong số 61 CCN không quy hoạch hệ thống xử lý nước thải thì có tới 49 CCN không còn quỹ đất mở rộng để xây dựng bổ sung trạm xử lý nước thải công nghiệp tập trung. Rõ ràng, nếu không có hướng thoát cho 61 CCN này thì tình hình ô nhiễm nước sẽ tiếp tục diễn ra.

Riêng đối với các CCN, UBND TP đã chỉ đạo xây dựng đề án đầu tư xây dựng hệ thống XLNT tập trung tại các CCN trên địa bàn thành phố giai đoạn 2012 - 2015. Lộ trình dự kiến là: Năm 2012 - 2013, tập trung chỉ đạo 10 CCN và 24 cụm tiểu thủ công nghiệp (dự án đã được phê duyệt); năm 2013 - 2014, tập trung chỉ đạo 11 CCN và 8 cụm tiểu thủ công nghiệp; năm 2014 - 2015, tập trung chỉ đạo 9 CCN và 13 cụm tiểu thủ công nghiệp.

Ông Nam cho rằng, sau khi phân loại, tách bạch được hiện trạng hệ thống XLNT của các CCN, việc tìm ra hướng tháo gỡ là tương đối dễ dàng. Đối với các CCN đã có quy hoạch và có quỹ đất để xây dựng hệ thống XLNT, thành phố và các cơ quan chức năng sẽ tập trung đôn đốc, chỉ đạo chủ đầu tư (CĐT) xây dựng và kinh doanh hạ tầng CCN thực hiện ngay việc xây dựng hệ thống XLNT tập trung. Đối với các CCN không có quy hoạch hệ thống XLNT, không còn quỹ đất để xây dựng hệ thống XLNT, các cơ quan chức năng sẽ yêu cầu CĐT xây dựng và kinh doanh hạ tầng CCN lập phương án điều chỉnh, bổ sung, bố trí phù hợp để có quỹ đất xây dựng trạm XLNT.

Còn đối với CCN không thể bố trí được quỹ đất để xây dựng hệ thống XLNT theo quy định, cơ quan chức năng sẽ xem xét việc chuyển đổi chức năng, chuyển đổi vị trí hoặc quy hoạch lại theo quy định. Trong khi chờ việc chuyển đổi này thành hiện thực, để kiểm soát ô nhiễm của các DN tại các CCN không thể bố trí được quỹ đất để xây dựng hệ thống XLNT, trước mắt, chỉ còn mỗi cách là quản lý chặt theo từng DN ngay tại nguồn xả thải. Đồng thời, DN sản xuất trong các CCN có trách nhiệm cam kết lại việc xử lý nước thải khu công nghiệp đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường trước khi xả ra môi trường.

Giải pháp lâu dài

Ông Ngô Thái Nam nhận định, qua những lần thanh tra, kiểm tra định kỳ, thực tế là nhận thức chung về môi trường của các DN tuy đã tốt hơn nhưng vẫn còn hạn chế và công tác xử lý ô nhiễm môi trường chỉ mang tính chất đối phó. Nhiều cơ sở đã thực hiện những nội dung và yêu cầu tại quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, bản cam kết bảo vệ môi trường, bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, đề án bảo vệ môi trường và trách nhiệm của chủ nguồn thải chất thải nguy hại nhưng chưa đúng và chưa đầy đủ theo quy định. Thêm vào đó, chi phí đầu tư xây dựng hệ thống XLNT thường lớn hơn rất nhiều so với các hạng mục khác, trong khi mục tiêu của các DN là giảm suất đầu tư nhằm thu hút các DN thứ phát nên việc đầu tư cho hệ thống XLNT thường bị lờ đi. Ngoài ra, trong tình hình kinh tế còn ảm đạm, phần lớn các CCN thường chậm tiến độ xây dựng hệ thống XLNT do gặp khó khăn trong khâu GPMB và vốn đầu tư.

Trước thực trạng vẫn gây ô nhiễm ở các CCN và KCN, thời gian tới, UBND thành phố tập trung yêu cầu và giám sát các đơn vị CĐT hạ tầng KCN xây dựng, hoàn thiện trạm xử lý nước thải khu công nghiệp tập trung cũng như hạ tầng kỹ thuật trong KCN để 100% các DN có thể đấu nối vào hệ thống XLNT tập trung. Việc này nếu làm được sẽ bảo đảm nước thải của các DN trong KCN phải được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi xả vào hệ thống thoát nước chung. Tiếp đến, tại trạm XLNT tập trung, các DN có trách nhiệm lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động theo đúng quy định.

Đặc biệt, nhằm giải quyết những vướng mắc điển hình tại KCN Quang Minh, các cơ quan hữu quan sẽ nghiên cứu ban hành mức thu phí xử lý nước thải trong KCN có trạm xử lý nước thải tập trung. Đây chính là cơ sở để CĐT hạ tầng KCN giải quyết những mâu thuẫn tồn đọng với các DN đã sản xuất từ trước khi KCN hình thành. Đồng thời, các cơ quan chức năng sẽ nghiên cứu ban hành định mức thu phí dịch vụ tiện ích công cộng làm cơ sở cho CĐT hạ tầng CCN quản lý, duy tu bảo dưỡng, chỉnh trang hạ tầng CCN để tránh trường hợp xả thải tự do như trước đây.

Về lâu dài, để giải quyết triệt để thực trạng gây ô nhiễm tại các KCN và CCN, việc xây dựng, phát triển các khu, CCN trong thời gian tới phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, trong đó công tác bảo vệ môi trường phải được quan tâm hàng đầu. Các cơ sở sản xuất trong khu dân cư gây ô nhiễm môi trường khiến người dân bức xúc sẽ được di dời vào các KCN, CCN đã được đầu tư hạ tầng nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường. Đặc biệt, UBND thành phố sẽ xem xét chặt chẽ và không cấp phép hoạt động cho những KCN, CCN chưa được đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.

Để tránh việc quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tại các CCN còn chồng chéo, UBND thành phố khuyến khích việc chuyển đổi đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng các CCN do UBND cấp huyện, cấp xã đang làm sang CĐT là các DN theo đúng quy định tại Quyết định số 44/2010/QĐ-UBND (ngày 10-9-2010) của UBND TP Hà Nội về việc ban hành quy định quản lý CCN trên địa bàn thành phố.

Đặc biệt, UBND thành phố đã chỉ đạo các sở, ban, ngành nghiên cứu, tham mưu đề xuất để ban hành quy định về quản lý môi trường trong các khu, CCN bảo đảm rõ ràng về trách nhiệm, tránh chồng chéo. Ngoài ra, ông Nam cho rằng, ở góc độ cơ quan theo dõi trực tiếp về vấn đề ô nhiễm, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội sẽ tăng cường công tác kiểm tra, quan trắc chất lượng môi trường định kỳ, cũng như đột xuất để phát hiện và xử lý kịp thời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường. Riêng đối với những cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ngoài việc xử lý nghiêm theo quy định, trong trường hợp cần thiết, cơ quan chức năng sẽ áp dụng biệp pháp đình chỉ hoạt động.

Khi mà những nỗ lực của các cơ quan chức năng chưa đủ, nhận thức bảo vệ môi trường của các DN còn hạn chế, cộng với chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe, người dân Hà Nội vẫn đang mong chờ một giải pháp tổng thể để có thể giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường nói chung và nguồn nước thải nói riêng ở các KCN và CCN.

Khẩu trang diệt khuẩn được làm từ bạc nano,giấy chế được gạch xây dựng

Công trình nghiên cứu sử dụng bạc nano làm khẩu trang diệt khuẩn để bảo vệ sức khỏe, dùng giấy làm gạch để bảo vệ môi trường...vừa được thực hiện thành công , tạo ra được các sản phẩm có ứng dụng cao trong cuộc sống.

Những người thực hiện các ý tưởng này không ai khác là các bạn sinh viên, những người trẻ tuổi nhưng mê nghiên cứu khoa học.


Làm gạch xây dựng từ giấy...


Nguyễn Cao Hoàng Sang cùng các dụng cụ chế tạo gạch từ giấy phế thải.


Ý tưởng táo bạo trên tưởng chừng như không thể nhưng Nguyễn Cao Hoàng Sang, sinh viên vừa mới tốt nghiệp ngành Xây dựng dân dụng và công nghệ, trường Đại học Kiến trúc TPHCM đã thuyết phục được Hội đồng Khoa học giải thưởng Sinh viên Nghiên cứu khoa học Eureka 2014 và giành giải Nhì của cuộc thi.



Kể về việc hình thành ý tưởng, Sang cho biết: “Vào năm thứ 4, qua quá trình tìm hiểu 2 vật liệu xây dựng thông dụng ở Việt Nam là gạch xi măng cốt liệu và gạch bê tông chân áp trong lúc học, em nhận thấy loại gạch xi măng cốt liệu có giá thành rẻ nhưng trọng lượng lớn, ảnh hưởng đến kết cấu công trình cũng như năng suất lao động.



Trong khi gạch bê tông chân áp khắc phục được hai nhược điểm trên thì giá thành lại rất cao. Từ đó, ý tưởng dung hòa hai loại vật liệu này lóe lên trong đầu và em nghĩ ngay đến việc dùng giấy phế thải để làm gạch xây dựng”.



Bắt tay vào nghiên cứu, Sang đến các quầy photo thu gom giấy phế thải sau đó đem về ngâm trong nước cho đến khi giấy vỡ vụn ra. Tuy nhiên, với cách làm này, Sang mất rất nhiều thời gian, đồng thời giấy phế thải cũng không cho ra được bột giấy như mong muốn. Cái khó ló cái khôn, Sang chế tạo ra một chiếc máy đánh giấy thành bột chỉ với những dụng cụ rất đơn giản như thùng sơn, chiếc mô tơ gắn lưỡi dao…



“Với chiếc máy này, em chỉ cần cho giấy và một ít nước vào thùng, đậy nắp lại rồi cho chiếc mô tơ gắn lưỡi dao vào cắt, đánh là có thể làm ra bột giấy ở mọi lúc, mọi nơi mà không mất quá nhiều thời gian cũng như công sức”, Sang cho biết.



Chuyển qua giai đoạn sản xuất, Sang trộn lần lượt bột giấy với xi măng, cát và nước theo nhiều tỷ lệ khác nhau rồi cho vào khuôn để đúc gạch. Ở tỷ lệ thứ nhất, lượng bột giấy nhiều hơn xi măng và cát, Sang cho ra loại gạch có trọng lượng khoảng 800 kg/m3 (nổi được trên mặt nước bởi trọng lượng của nước là 1.000 kg/m3- PV). Với viên gạch này, Sang có thể dùng làm vách ngăn trong nhà.



Viên gạch sản xuất từ giấy của Nguyễn Cao Hoàng Sang có thể chịu lực tương đương với viên gạch truyền thống.



Ở tỷ lệ thứ hai, lượng bột giấy ít hơn xi măng và cát, Sang cho ra viên gạch có độ chịu lực khoảng 70 kg/cm2, nhẹ hơn viên gạch truyền thống cùng thể tích nhưng vẫn có thể dùng để xây tường chịu lực cho nhà cửa.



“Viên gạch làm từ bột giấy này có giá thành khoảng 6.000 đồng/viên, nhiều hơn 1.000 đồng so với viên gạch truyền thống. Tuy nhiên, do mình làm thủ công, không có dây chuyền chuyên nghiệp nên giá thành cao. Nếu sản xuất đại trà, bài bản thì chắc chắn giá thành sẽ rẻ hơn nhiều”, Sang tự tin nói.



Gạch đã ra lò, độ chịu lực cũng đã đạt yêu cầu so với kế hoạch đề ra. Giữa năm 2014, Sang mang đề tài đi thi Sinh viên Nghiên cứu khoa học Eureka và lọt vào vòng chung kết. Ở vòng thi này, Hội đồng Khoa học đã hỏi Sang “Vì sao lại dùng giấy phế thải để làm gạch xây dựng trong khi xưa nay, người ta dùng để làm giấy mới”.



Phản biện lại ý kiến trên, Sang cho rằng: “Việc dùng giấy tái chế làm giấy mới ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến môi trường bởi giấy tái chế dùng để làm giấy mới không được dính mực nên phải trải qua công đoạn tách mực. Công đoạn này sẽ thải ra môi trường một lượng nước thải công nghiệp khá lớn, trong khi khâu xử lý nước thải, chất thải sản xuất công nghiệp ở nước ta lại chưa phát triển.



Ngược lại, việc dùng giấy phế thải làm gạch xây dựng lại không quan trọng loại giấy gì, có mực hay không, nên giải quyết được vấn đề rác thải. Trong khi gạch làm bằng đất sét sẽ thu hẹp đất nông nghiệp cũng như ô nhiễm môi trường do nung nấu trong quá trình sản xuất…”.



Đó là ý tưởng của Trang Kim Lý, sinh viên năm cuối ngành Công nghệ Môi trường (trường ĐH Công nghiệp TPHCM) với mục đích thay thế những loại khẩu trang thông thường để bảo vệ sức khỏe con người. Với tính ứng dụng cao, ý tưởng này khi cho ra sản phẩm đã giúp Kim Lý giành được giải Nhì cuộc thi Sinh viên Nghiên cứu khoa học Eureka 2014.



Theo Kim Lý, môi trường hiện nay đang rất ô nhiễm, tồn tại rất nhiều loài vi khuẩn có khả năng gây bệnh cho con người, từ đó phát sinh rất nhiều dịch bệnh lây lan qua đường hô hấp. Để bảo vệ con người khỏi các nguồn gây bệnh trong không khí, khẩu trang là một vật dụng rất cần thiết.



“Tuy nhiên, hầu hết các loại khẩu trang trên thị trường hiện nay chỉ có tác dụng ngăn bụi, hóa chất… mà không thể tiêu diệt vi sinh vật, bảo vệ sức khỏe con người khỏi các dịch bệnh lây truyền qua đường hô hấp.



Trong khi đó, bạc nano ngày càng được ứng dụng nhiều cho các mục đích kháng khuẩn như y tế, xử lý nước thải, bảo quản thực phẩm... nên em nghĩ ngay đến việc sử dụng bạc nano vào làm khẩu trang”, Kim Lý kể.



Bắt tay vào nghiên cứu, Kim Lý tiến hành thí nghiệm sản xuất dung dịch keo bạc nano trên nền chitosan với nhiều tỷ lệ khác nhau rồi chọn ra tỷ lệ diệt khuẩn cao nhất. Sau khi có dung dịch bạc nano vừa ý, Kim Lý phủ lớp bạc nano này lên nhiều loại vải khác nhau như Cotton, vải không dệt, vải CVC rồi kiểm tra độ bền, độ hao hụt bạc qua các lần giặt. Ngoài ra, để kiểm tra khả năng diệt khuẩn, Kim Lý còn tạo ra một môi trường nhiều vi khuẩn, sau đó cho khẩu trang vào trong môi trường này để chọn ra loại vải tốt nhất.


Khẩu trang sử dụng bạc nano diệt khuẩn của Kim Lý.



Kim Lý mách nhỏ: “Khổ nhất là giai đoạn giặt, khẩu trang sau khi phơi khô lại lôi ra giặt, có ngày em phải giặt 5- 6 lần, mỗi lần giặt lại phải đánh dấu, ghi vào sổ để tránh nhầm lẫn. Khi đến các lần giặt thứ 30, 50, 70… thì em đem thí nghiệm độ bền của bạc trên khẩu trang”.



Sau 5 tháng tìm hiểu, nghiên cứu và thực hiện, Kim Lý đã cho ra đời một chiếc khẩu trang diệt khuẩn do tự tay mình sáng chế. Kim Lý cho biết: “Với quy trình sản xuất kiểu thí nghiệm nhỏ lẻ, giá thành để làm ra một khẩu trang diệt khuẩn khoảng 9- 10 ngàn đồng nhưng khả năng kháng khuẩn có thể kéo dài sau nhiều lần giặt. Vì thế, nếu sản xuất đại trà, dây chuyền hiện đại thì khả năng giá thành sẽ rẻ hơn, mang lại lợi ích kinh tế cũng như sức khỏe cho người tiêu dùng”.



Hiện, đề tài của Kim Lý đã được chuyển giao cho Trung tâm Nghiên cứu và triển khai công nghệ bức xạ TPHCM để tiếp tục được nghiên cứu, phát triển.

Công nghệ xử lý nước thải dệt nhuộm bằng than cacbon hóa làm giá thể được viện công nghệ môi trường - viện khoa học và công nghệ Việt Nam tiến hành nghiên cứu trong một thời gian dài và hiện nay đã đạt được hiệu quả xử lý rất cao.
Công nghệ xử lý nước thải dệt nhuộm sử dụng than cácbon hóa được Viện Công nghệ Môi trường thực nghiệm xử lý nước thải tại Khu công nghiệp dệt may Phố Nối, Công ty cổ phần BITEXCO Nam Long, Thái Bình.

Kết quả thực nghiệm cho thấy, ở cùng các điều kiện, mô hình sử dụng than cácbon hóa cho hiệu suất xử lý COD, BOD và TOC trong nước thải dệt nhuộm cao hơn từ 1,5 - 2,7 lần so với mô hình không sử dụng than.

Trong môi trường xử lý nước thải dệt nhuộm vi sinh có than làm giá thể dính bám, hiệu quả xử lý BOD (lấy qua giá trị trung bình) tỏ ra có ưu thế hơn hẳn 1,5 lần (53% so với 35%) khi không có than, thể hiện qua ưu thế của than trong xử lý COD tỏ ra càng vượt trội so với không xử lý than (gần 2,7 lần).

Đặc biệt, với hàm lượng ô nhiễm dao động lớn ở đầu vào trong bình có than nhưng hàm lượng COD ở đầu ra thấp và khá ổn định.

Nếu so sánh trên khía cạnh xử lý chất hữu cơ cácbon trong nước thải dệt nhuộm thì hiệu quả cao nhất thể hiện ở chỉ tiêu TOC tới 73% ở bình có than, gấp hơn 2 lần so với bình không than 36%. Cũng tương tự như COD, hàm lượng ô nhiễm tại đầu ra của bình phản ứng có than là thấp và khá ổn định.

Qua đó cho thấy, mặc dù nước thải của Công ty cổ phần BITEXCO Nam Long và Khu Công nghiệp dệt may Phố Nối có những đặc trưng riêng, nhưng việc sử dụng than cácbon hóa làm giá thể trong quá trình xử lý vi sinh đã làm tăng đáng kể hiệu suất xử lý các yếu tố gây ô nhiễm như BOD, COD và TOC.

Viện Công nghệ Môi trường cũng đã tiến hành ứng dụng sản phẩm để xử lý nước thải dệt nhuộm tại 2 cơ sở dệt nhuộm của Việt Nam, thực tế là hiệu quả xử lý COD từ 1,28-2,7 lần, BOD 1,5 lần, TOC gấp hơn 2 lần so với thiết bị đối chứng không sử dụng than cácbon hóa
Làng nghề xã Dương Liễu (Huyện Hoài Đức, Hà Nội) từ nhiều năm nay phải sống chung với ô nhiễm môi trường. Một trong những nguyên nhân ô nhiễm môi trường phần lớn là từ nghề sản xuất tinh bột,bánh kẹo và làm miến gây ra.

Ô nhiễm bủa vây làng nghề

Làng nghề sản xuất bánh kẹo, miến, bột dong riềng xã Dương Liễu phát triển từ những năm 1960. Làng nghề càng phát triển thì hàng trăm hộ dân sống ven con kênh T2 chảy qua xã phải sống trong cảnh ô nhiễm môi trường.

Dương Liễu có gần 3143 hộ thì trên 2.800 hộ dân làm nghề, tổng doanh thu làng nghề mỗi năm trên 300 tỷ đồng. Mỗi ngày làng nghề Dương Liễu chế biến hàng trăm tấn dong riềng, thải ra môi trường 13 nghìn m3 nước thải. Đến làng nghề, chúng tôi thấy cảnh sản xuất tất bật của người dân. Nhưng một ấn tượng khiến chúng tôi khó chịu đó là mùi xú uế, hôi thối… bay quanh khắp làng. Đi đến chỗ nào chúng tôi cũng bắt gặp nước thải ở tất cả cống rãnh thoát nước làng nghề một màu đen kịt. Đặc biệt con kênh T2 chảy qua địa phận cũng ô nhiễm trầm trọng. Anh Nguyễn Trọng Sơn một hộ dân trong làng cho biết: “Ô nhiễm tích tụ bao năm nay, ảnh hưởng đến nguồn nước giếng khoan, nước giếng có mùi thum thủm dân không dám ăn, mà chỉ để sản xuất, tắm giặt… Một số nhà có điều kiện thì thay đổi nguồn nước khác như nước mưa, nước máy, còn không có điều kiện vẫn phải sử dụng.”

Kênh T2 ô nhiễm nặng


Ông Trần Ngọc Hải một hộ dân khác phản ánh: “Hàng năm cứ vào thời gian cao điểm sản xuất vào vụ nông dân thu hoạch bột sắn, miến... nước thải chảy ra ngoài kênh, cộng với nước thải sinh hoạt nên rất hôi thối. Việc đó cứ diễn ra mấy chục năm qua, nước thải không được tiêu thoát, anh bảo sao mà không ô nhiễm?”. Còn anh Nguyễn Văn Tài, chủ cơ sở sản xuất bánh kẹo, miến dong chia sẻ: “Trong quá trình sản xuất, nước thải cùng với hóa chất xả thẳng ra cống rãnh quanh làng. Từ trước đến nay nguồn nước thải ra chưa có xử lý nhưng vì cuộc sống mưu sinh chúng tôi bắt buộc phải xả thải ra môi trường biết là ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhưng các hộ làm nghề như gia đình chúng tôi phải chấp nhận…”

Quy trình sản xuất miến, bánh kẹo ở đây gần như là thủ công, mạnh hộ nào hộ đó làm. Vào vụ sản xuất, hàng trăm tấn củ dong riềng khắp nơi tập trung ở xã. Theo tính toán, cứ 10 tấn củ dong riềng ở 1 hộ sản xuất thải ra môi trường 7 tấn bã, nước thải. Tất cả đổ xuống cống rãnh, kênh mương quanh làng, chỉ sau 3 - 4 ngày, các hóa chất, nước thải sinh hoạt, chất hữu cơ phân hủy bốc lên mùi hôi thối lan ra cả vùng. Trong quá trình sản xuất mạch nha làm bánh kẹo, miến dong… người ta xử lý làm trắng bột bằng thuốc tím. Sau 7 ngày, tinh bột trắng được xử lý lắng đọng, người ta thu lại bột, còn nước thải cùng hóa chất đổ thẳng ra cống rãnh…

Những phương án xử lý

Mức độ ô nhiễm môi trường ở Dương Liễu hiện chưa có con số thống kê của cơ quan chức năng, nhưng rõ ràng tình trạng này đang ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Trao đổi với PV, ông Nguyễn Bá Hưng - Phó chủ tịch UBND xã Dương Liễu khẳng định: “Từ năm 2003, UBND xã Dương Liễu đã xây dựng quy chế vệ sinh môi trường, lấy ý kiến của nhân dân, sau đó xã thành lập tổ vệ sinh môi trường. Những năm gần đây, do các hộ sản xuất ngày càng nhiều, xã Dương Liễu đã khoán công tác vệ sinh môi trường cho các hộ tự khơi thông cống rãnh, thu gom rác thải tại nhà mình. UBND xã đã huy động thu kinh phí xử lý môi trường trong đó có một phần đóng góp của người dân, mỗi khẩu đóng góp 8.000 đồng, nhưng mô hình này hiện nay đang hoạt động khó khăn do việc huy động kinh phí vệ sinh môi trường của người dân làm nghề cũng khó…”

Theo ông Hưng, UBND xã đã đưa ra nhiều giải pháp, ngoài việc tuyên truyền ý thức bảo vệ môi trường triển khai 6 tuyến đường và hệ thống cống rãnh kinh phí hơn 100 triệu, cùng với đó kết hợp với cơ quan y tế huyện tiến hành phun thuốc khử trùng những vùng ô nhiễm nặng, phòng tránh dịch bệnh... Ngoài ra, xã đã tiến hành quy hoạch điểm công nghiệp làng nghề vùng bãi, diện tích 16ha để tập trung các hộ sản xuất. Mặc dù đã thông qua ý kiến dân, nhưng điểm công nghiệp nằm trong vùng phân lũ, nên không được phê duyệt. Dương Liễu tiến hành quy hoạch điểm công nghiệp 12ha ở vùng đồng và giao cho Tập đoàn Minh Dương đầu tư cơ sở hạ tầng. Nếu triển khai được điểm công nghiệp này thì sẽ thu hút khoảng 200 hộ dân làm nghề tập trung vào sản xuất. Tuy nhiên qua hàng chục năm dự án vẫn nằm trên giấy.

“ Năm 2008, Công ty TNHH Mặt Trời Xanh đã đầu tư để xử lý nước, bã thải làng nghề nhưng khi đi vào hoạt động không thể xử lý được nước thải, họ chỉ tận dụng bã thải để làm phân vi sinh vớt lên từ kênh T2. Đến nay công ty cũng đã dừng hoạt động do không huy động được kinh phí, nên khâu xử lý nước thải sản xuất làng nghề, rác thải ô nhiễm môi trường làng nghề hiện nay lại quay về công tác thủ công của tổ vệ sinh môi trường xã. Điều này không những ảnh hưởng người làm nghề mà còn ảnh hưởng đến địa bàn xã khác. Chúng tôi đang kiến nghị UBND huyện đầu tư kinh phí xây dựng hệ thống kênh tiêu ngầm giữa 2 xã Dương Liễu và Cát Quế.” – Ông Hưng cho biết.

Theo ông Hưng, UBND xã đang đề xuất với thành phố quy hoạch địa điểm chôn lấp rác thải, sớm triển khai dự án xử lý nước thải sản xuất làng nghề, rác thải cụm làng nghề Dương Liễu – Cát Quế - Minh Khai nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Nếu dự án này triển khai thì giảm bớt nỗi lo ô nhiễm của người dân.

Nhịn cười vì nước sinh hoạt bị ô nhiễm


Vì uống nước giếng nhiễm flo nên người dân nơi đây phải chịu cảnh nhịn cười do răng hư. Trường hợp dở khóc dở cười trên xay ra tại xóm Gò Mía, thôn Cẩm Thạch, xã Hòa Định Tây, tỉnh Phú Yên.

Lọt thỏm giữa dòng sông Ba và cánh đồng "trời đánh" là xom Gò Mía . Trong xóm rất ít người ra đường mặc dù chỉ cách quốc lộ 25 chưa đến 1 km.Vào xóm, ít được người dân tiếp chuyện và càng hiếm nhận được những nụ cười rạng rỡ. “Nhiều người trong xóm bị hư răng nên ngại cười” - ông Trần Dư, Trưởng thôn Cẩm Thạch, giải thích.





Đồng hồ nước của hệ thống nước sạch bị bỏ hoang chưa bị tháo dỡ




Nguyễn M.T, con trai của Bí thư Chi bộ thôn Cẩm Thạch Nguyễn Minh Hoàng, đến tuổi làm quen bạn gái nhưng em nói: “Ngại lắm, chẳng muốn đi chơi ở đâu. Mỗi khi cười sợ bạn trêu chọc”. Ông Nguyễn Minh Thành (43 tuổi) và bà Trương Thị Hai (41 tuổi) có 2 cô con gái đến tuổi cặp kê nhưng đều bị hư răng. Ông bà dành dụm được 6 triệu đồng đưa 2 con đến bác sĩ trám răng nhưng chưa được bao lâu thì bị bong tróc. “Gia đình đang tính mượn ít tiền để 2 con trồng răng giả” - bà Hai nói.


Theo những người dân nơi đây, trẻ em đến tuổi thay răng sữa thì hàm răng bắt đầu hư, ố vàng rồi đen xỉn, lâu ngày bị rụng dần. Bác sĩ Phạm Đình Huấn (chủ phòng mạch Nha Chín ở TP Tuy Hòa), người có nhiều thời gian tìm hiểu về tình trạng răng hư ở xóm Gò Mía, cho rằng nguồn nước ở đây chứa hàm lượng flour vượt ngưỡng cho phép nhiều lần làm ảnh hưởng đến men răng.


Theo ông Nguyễn Phi Hổ, Phó Chủ tịch UBND xã Hòa Định Tây, trước tình trạng người dân xóm Gò Mía bị hư răng do nguồn nước, xã đã đề nghị và được huyện đầu tư hơn 3 tỉ đồng để lắp đặt hệ thống nước sạch dài 7 km từ thị trấn Phú Hòa, huyện Phú Hòa về đây. Công trình do HTX Nông nghiệp Hòa Định Tây vận hành, kinh doanh bằng cách mua nước từ Nhà máy nước Phú Hòa (thuộc Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước Phú Yên) rồi bán lại cho các hộ dân. Công trình đưa vào hoạt động từ năm 2009, đến năm 2011 thì tạm dừng do giá bán cao, người dân không sử dụng. Xã vận động mãi nhưng đến nay cũng chỉ có 3 hộ đồng ý sử dụng nước trở lại.


Theo ông Nguyễn Minh Hoàng, khi bắt nước từ hệ thống nước sạch này vào nhà dân, mỗi hộ phải bỏ ra từ 1-4 triệu đồng để mua ống, đồng hồ. “Tuy nhiên hiện nay, hầu hết các hộ dân đều tháo bỏ đồng hồ, đường ống” - ông Hoàng nói.

Hệ thống xử lý nước thải KCN ở Bình Phước đảm bảo tiêu chuẩn



Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước Nguyễn Văn Trăm cùng với lãnh đạo Sở Tài nguyên - Môi trường, Công an tỉnh, lãnh đạo một số ban ngành liên quan đã kiểm tra hệ thống xử lý nước thải tại Khu công nghiệp Minh Hưng - Chơn Thành và Khu công nghiệp Minh Hưng 3 - Chơn Thành.

Theo báo cáo thống kê, công tác xây dựng khu xử lý nước thải Khu công nghiệp Minh Hưng - Hàn Quốc, hiện đã xây dựng được hệ thống xử lý nước thải cho 2 giai đoạn với tổng công suất là 18.000 m3/ngày đêm. Các doanh nghiệp đăng ký xả thải theo báo cáo đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường khoảng 18.006 m3/ngày đêm.

Lượng xả thực tế hiện nay khoảng 8.233,5 m3/ngày đêm. Kết quả đợt kiểm tra của các cơ quan chức năng đến nay chưa phát hiện hiện tượng xả nước thải chưa đạt quy chuẩn theo quy định. Khu công nghiệp Minh Hưng 3 hiện đã xây dựng được hệ thống xử lý nước thải công suất 2.000m3/ngày đêm và đang hoạt động ổn định.

Các doanh nghiệp đăng ký xả thải khoảng 1.480m3/ngày, hiện đang xả thải là 30m3/ngày. Theo lãnh đạo Khu công nghiệp Minh Hưng 3, hiện công ty chưa nhận được đơn thư phản ánh nào trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Lãnh đạo khu công nghiệp Chơn Thành 1 khẳng định cũng chưa nhận được đơn thư phản ánh nào trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Khu công nghiệp này hiện thu hút những ngành nghề phát sinh ít nước thải sản xuất, chủ yếu là nước thải sinh hoạt.

Công ty đã xây dựng hệ thống nước thải với công suất cho phân kỳ 1 là 600 m3/ngày. Các doanh nghiệp hiện đăng ký xả thải là 431,5 m3/ngày, trong đó lượng xả thải thực tế là 275 m3/ngày.

Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước đánh giá cao những nỗ lực của lãnh đạo các Khu công nghiệp trong việc xây dựng, vận hành các hệ thống xử lý nước thải đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh môi trường theo đúng các quy định pháp luật hiện hành.

Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước khẳng định, hệ thống xử lý nước thải trong các khu công nghiệp luôn đóng vai trò rất quan trọng, vì vậy, lãnh đạo tỉnh luôn quan tâm đặc biệt tới vấn đề này.

Dù hiện chưa để xảy ra vụ vi phạm nào trong bảo vệ môi trường, nhưng các khu công nghiệp luôn phải duy trì ý thức, trách nhiệm cao trong việc bảo vệ môi trường, tránh để xảy ra những hậu quả ô nhiễm môi trường đáng tiếc như 1 số tỉnh đã từng gặp phải khi phát triển nóng các khu công nghiệp.

Tuyên Quang: Nước xả thải tại Nhà máy giấy An Hòa vượt quá nồng độ cho phép

Ông Phạm Văn Lương, Phó Giám đốc phụ trách Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tuyên Quang cho biết, Thanh tra Sở, Chi cục bảo vệ tài nguyên môi trường và Trung tâm quan trắc vừa tổ chức đợt kiểm tra về chất lượng hoạt động hệ thống xử lý chất thải, bảo vệ môi trường tại Công ty Cổ phần giấy An Hòa phát hiện nước xả thải ra ngoài môi trường của đơn vị này vượt quá nồng độ cho phép.


                                                               Ảnh minh hoạ


Theo kết quả kiểm tra, từ ngày 1 - 26, Công ty Cổ phần giấy An Hòa dừng toàn bộ sản xuất để bảo dưỡng định kỳ máy móc thiết bị nhưng tại khu vực cửa xả bờ sông Lô vẫn có nước thải từ hồ sinh học của nhà máy chảy ra. Để xác định nồng độ chất ô nhiễm trong nước thải, cơ quan chức năng đã cùng với Công ty tiến hành lấy 2 mẫu nước thải tại vị trí cửa cống xả thải ra sông Lô gửi Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng I (thuộc Tổng Công ty đo lường chất lượng) thử nghiệm. Kết quả cho thấy 2 mẫu thử đều vượt quá giới hạn quy định tại QCVN 12:2008/BTNMT; trong đó, độ màu vượt từ 2,13 đến 2,2 lần, BOD5 (lượng oxy cần thiết để oxy hóa hết các chất hữu cơ và sinh hóa do vi khuẩn gây ra, với thời gian xử lý nước là 5 ngày ở điều kiện nhiệt độ 20°C) vượt từ 1,06 - 1,12 lần.


Căn cứ vào thực tế và các quy định pháp luật, Sở Tài nguyên và Môi trường trình UBND tỉnh yêu cầu Công ty Cổ phần giấy An Hòa khẩn trương xây dựng kế hoạch để hoàn thành, và vận hành hệ thống xử lý nước thải, đảm bảo khi xả thải phải đạt tiêu chuẩn cho phép báo cáo UBND tỉnh Tuyên Quang trước ngày 31/5/2015. Sở Tài nguyên và Môi trường Tuyên Quang tiếp tục phối hợp với Công an tỉnh và các cơ quan chức năng tăng cường công tác thành tra, kiểm tra, xử lý kịp thời khi có hành vi vi phạm quy định của pháp luật xảy ra.


Nhà máy giấy An Hòa được đưa vào hoạt động từ năm 2011, trong quá trình hoạt động đơn vị này đã nhiều lần bị UBND tỉnh Tuyên Quang xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Cụ thể, năm 2013 UBND tỉnh Tuyên Quang xử phạt hành chính 230 triệu đồng, Cục cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường xử phạt 225 triệu đồng. Tháng 8/2014, UBND tỉnh Tuyên Quang tiếp tục xử phạt đơn vị này 150 triệu đồng vì không thực hiện đúng nội dung về xử lý nước thải đạt quy chuẩn QCVN 12:2008/BTNMT, cột A đã được phê duyệt trong báo cáo đánh giá tác động môi trường trước khi thải ra sông Lô.