Dự án lấp sông Đồng Nai đang đang có khả năng tạm dừng vị bị kiến nghị


Theo công văn số 2159/BTNMT-TNN Bộ TN&MT báo cáo thủ tưởng chính phủ về vấn đề môi trường xung quanh việc triển khai dự án cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai vào ngày 29/5/2015. Công văn này với mục đích kiến nghị thủ tướng chỉ đạo dừng dự án cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai.





Công văn gừi Thủ tTướng, Bộ TN&MT cho biết: Dự án lấp sông vi phạm nhiều luật




Theo đó, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Xây dựng, Giao thông vận tải thành lập Tổ công tác liên ngành tổ chức kiểm tra thực địa, làm việc với UBND tỉnh Đồng Nai và các cơ quan chức năng của tỉnh Đồng Nai, rà soát các tài liệu, thủ tục pháp lý liên quan đến quá trình chuẩn bị và triển khai Dự án cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, báo cáo, hồ sơ Dự án do UBND tỉnh Đồng Nai cung cấp, trên cơ sở ý kiến của các Bộ, cơ quan có liên quan, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ các nội dung liên quan tới Dự án cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai cụ thể như sau:

Một là, về tình hình triển khai thực hiện Dự án

Chủ trương “Phát triển trung tâm thành phố Biên Hòa, khu thương mại dịch vụ dọc sông Đồng Nai và sông Cái theo hướng hiện đại và tiết kiệm đất đai, tạo điểm nhấn cho đô thị Biên Hòa” đã được UBND tỉnh Đồng Nai chỉ đạo các Sở, ngành chức năng nghiên cứu và đã có Tờ trình số 7515/TTr-UBND ngày 21 tháng 11 năm 2005 gửi Bộ Xây dựng về việc điều chỉnh cục bộ quy hoạch cảnh quan ven sông Cái và sông Đồng Nai trong đồ án điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Biên Hòa (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 227/2003/QĐ-TTg ngày 06 tháng 11 năm 2003). Bộ Xây dựng cũng đã có Văn bản số 2634/BXD-KTQH ngày 22 tháng 12 năm 2005 “đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai chỉ đạo các cơ quan có liên quan triển khai nghiên cứu thiết kế đô thị khu vực ven sông Cái và sông Đồng Nai”.

Khu vực Dự án nằm giữa cầu Hóa An và cầu Ghềnh trên sông Đồng Nai. Dự án do Công ty cổ phần Đầu tư - Kiến trúc - Xây dựng Toàn Thịnh Phát làm chủ đầu tư, được động thổ, chuẩn bị mặt bằng thi công từ tháng 9 năm 2014 và khởi công tháng 01 năm 2015. Dự án có quy mô 8,4 ha, trong đó có 7,7 ha do lấn dòng chính sông Đồng Nai, với tổng chiều dài 1,3 km, chiều rộng lớn nhất khoảng 100m.

Việc xây dựng kè bờ lấn ra sông được thực hiện tại đoạn sông có mặt cắt khoảng 800m, là mặt cắt lớn nhất tính từ cầu Hóa An đến cầu Ghềnh.

Tại hiện trường, Dự án đã thực hiện việc san lấp khoảng 600m, trong đó khu vực trung tâm hình bán nguyệt có chiều rộng lớn nhất là 100m, dài 500m, khối lượng san lấp đạt khoảng 70%. Cao trình mặt kè cao hơn lòng sông khoảng từ 5m đến 8m. Dự án đã xây dựng một phần cơ sở hạ tầng (cống thoát nước, san nền,...).

Nằm trong phạm vi Dự án có trạm bơm của Nhà máy nước cấp cho thành phố Biên Hòa và Trạm thủy văn Biên Hòa. Để phục vụ cho việc phát triển Dự án, vị trí lấy nước của trạm bơm và trạm thủy văn sẽ được di dời. Vị trí xây dựng Dự án cách luồng giao thông thủy khoảng 280m, nằm ngoài hành lang bảo vệ luồng giao thông thủy.

Ngày 27 tháng 3 năm 2015, Chủ đầu tư Dự án đã có văn bản đề nghị UBND tỉnh Đồng Nai cho phép dừng Dự án để xin ý kiến các Bộ, ngành, các nhà khoa học. UBND tỉnh Đồng Nai đã có Văn bản số 2212a/UBND-CNN chấp nhận cho Công ty Cổ phần Đầu tư - Kiến trúc - Xây dựng Toàn Thịnh Phát tạm dừng thi công Dự án từ ngày 28 tháng 3 năm 2015, nhằm rà soát lại các nội dung liên quan đến dự án.

Hiện nay, Công ty Cổ phần Đầu tư - Kiến trúc - Xây dựng Toàn Thịnh Phát đã ngưng hoàn toàn các công việc thi công trên công trường. Duy trì 04 chốt bảo vệ trực 24/24h bảo đảm an ninh công trường và duy trì đội công nhân dọn dẹp vệ sinh công trường, tưới nước mặt bằng để chống bụi.

Hai là, nhận xét về quá trình thực hiện Dự án

Một số phát hiện của Tổ công tác và các Bộ, cơ quan có liên quan:

Sau khi khảo sát thực tế tại khu vực thực hiện Dự án, làm việc với UBND tỉnh Đồng Nai, nghiên cứu hồ sơ Dự án và trao đổi, thảo luận, Tổ công tác và các Bộ, cơ quan có liên quan đã phát hiện một số vấn đề sau:

- Việc thực hiện Dự án được xuất phát từ chủ trương chỉnh trang, tạo điểm nhấn cho thành phố Biên Hòa, xã hội hoá, tiết kiệm ngân sách, hạn chế di dời, bảo tồn di tích lịch sử ven sông, đã có sự thống nhất của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và UBND tỉnh Đồng Nai.

- Dự án đã tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành về đất đai, xây dựng, đầu tư, giao thông đường thủy và đã có đánh giá tác động môi trường. Trước đó, năm 2008 UBND tỉnh Đồng Nai đã tổ chức nghiên cứu, đánh giá tác động đến dòng chảy sông Đồng Nai đoạn từ cầu Hóa An đến Cầu Ghềnh trong trường hợp xây dựng kè xa bờ, năm 2009 UBND tỉnh Đồng Nai đã phê duyệt Báo cáo.

Tuy nhiên, còn một số vấn đề Dự án chưa tuân thủ chặt chẽ các quy định hiện hành trong các lĩnh vực kể trên: Đồ án Điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 phường Quyết Thắng, thành phố Biên Hòa đã xác định khu đất Dự án lấn sông Đồng Nai khi chưa thực hiện quy trình điều chỉnh cục bộ các nội dung liên quan đến đồ án Điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Biên Hòa đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 227/2003/QĐ-TTg ngày 06 tháng 11 năm 2003 (ý kiến của Bộ Xây dựng).

- Việc tuân thủ pháp luật khí tượng thuỷ văn:

Trạm thủy văn Biên Hòa đặt giữa khu vực san lấp lấn sông tạo mặt bằng của Dự án. Dự án thực hiện sẽ phải di dời trạm thuỷ văn và như vậy sẽ ảnh hưởng cả chuỗi số liệu đã có trong quá khứ.

Theo Quyết định số 44/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc Quy định về dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai ban hành ngày 15 tháng 8 năm 2014, quy định các trạm thủy văn phải dự báo lũ cùng các cấp báo động tương ứng do Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ chịu trách nhiệm dự báo, trong đó có trạm Biên Hòa. Do đó khi trạm di dời sẽ phải tính toán lại các cấp báo động lũ.

- Việc tuân thủ pháp luật tài nguyên nước:

Dự án chưa làm rõ sự tuân thủ các quy định tại Điều 9, Điều 63 Luật tài nguyên nước năm 2012 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2013) về bảo đảm thoát lũ; sự lưu thông dòng chảy; không gây sạt lở bờ sông. Theo quy định tại Điều 72 của Luật tài nguyên nước và Điều 42 của Nghị định 201/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước, Dự án cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai thuộc hoạt động gia cố bờ sông, cải tạo cảnh quan, phát triển vùng đất ven sông trên lưu vực sông liên tỉnh phải lấy ý kiến Bộ Tài nguyên và Môi trường. Trong quá trình triển khai, Dự án chưa lấy ý kiến của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Báo cáo đánh giá tác động môi trường đtm của Dự án và Báo cáo đánh giá tác động dòng chảy đều chưa làm rõ hoặc chưa nghiên cứu, đánh giá đầy đủ để có thể định lượng các tác động của Dự án tới thoát lũ, lưu thông dòng chảy, bồi lắng, sạt, lở lòng, bờ bãi sông làm cơ sở thực hiện Dự án, cụ thể như sau:

- Đặt bài toán và giải bài toán:

Đặt bài toán chưa đầy đủ, chưa xem xét quá trình diễn biến lòng dẫn trong nhiều năm, nhiều thời kỳ.

Các phương án công trình đưa ra trong báo cáo chưa xem xét đến việc đánh giá ổn định lòng dẫn trên toàn tuyến, đặc biệt vị trí đoạn bờ đối diện công trình, chưa đánh giá được sự thu hẹp lòng dẫn ở phần chân do vấn đề san lấp gây ra.

Chưa xét đến trường hợp tính toán khi có lũ lớn trên sông Đồng Nai kết hợp với triều cường, đặc biệt khi có xả lũ của các hồ chứa phía thượng nguồn.

- Về số liệu đầu vào:

Số liệu địa hình, thủy văn (lưu tốc mực nước tại 3 mặt cắt: Biên Hòa hạ lưu cầu Ghềnh, hạ lưu cầu Rạch Cát được thực hiện trong tháng 9 năm 2008 (4 ngày) chưa đáp ứng được yêu cầu bài toán đánh giá tác động dòng chảy do Dự án gây ra trên sông Đồng Nai đoạn từ cầu Hóa An đến cầu Ghềnh.

Thời gian mô phỏng diễn biến chỉ tính toán trong các ngày từ 16 đến ngày 19 tháng 9 năm 2008 là chưa đủ, đặc biệt chưa đánh giá mô phỏng với lưu lượng ổn định lòng dẫn (lưu lượng tạo lòng).

Mô hình thủy lực mới chỉ được hiệu chỉnh trên cơ sở chuỗi số liệu thực đo từ ngày 16 đến ngày 19 tháng 9 năm 2008 chưa phản ánh được các trường hợp đặc trưng như lũ lớn, mực nước cao nên chưa đủ thuyết phục. Kết quả hiệu chỉnh mới chủ yếu dựa vào mực nước và lưu lượng. Chưa có hiệu chỉnh về biến động lòng dẫn.

Giải trình của UBND tỉnh Đồng Nai:

UBND tỉnh Đồng Nai đã có các Báo cáo giải trình các vấn đề nêu trên. Theo đó, đối với việc tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành về xây dựng, trên cơ sở ý kiến thỏa thuận của Bộ Xây dựng, UBND tỉnh Đồng Naiđã điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng thành phố Biên Hòa giai đoạn đến năm 2030 (Quyết định số 2302/QĐ-UBND ngày 25 tháng 7 năm 2014). Đối với việc di dời Trạm thủy văn Biên Hòa Chủ đầu tư đã có Biên bản họp về việc di dời trạm với Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ. Đồng thời, UBND tỉnh Đồng Nai cũng đã giải trình các vấn đề cụ thể khác, nhất là đối với Báo cáo đánh giá tác động dòng chảy, Báo cáo ĐTM. UBND tỉnh Đồng Nai cũng đã xác định nguồn gốc đất đá dùng lấp sông không lấy từ sân bay Biên Hòa.

Ý kiến của Bộ Tài nguyên và Môi trường:

Để thực hiện chủ trương của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và UBND tỉnh Đồng Nai là chỉnh trang, tạo điểm nhấn cho thành phố Biên Hòa, xã hội hóa, tiết kiệm ngân sách, hạn chế di dời, bảo tồn di tích lịch sử ven sông, UBND tỉnhĐồng Nai đã chủ động tổ chức nghiên cứu, đánh giá tác động đến dòng chảy sông Đồng Nai đoạn từ cầu Hóa An đến Cầu Ghềnh trong trường hợp xây dựng kè xa bờ (50m, 75m và 100m), phê duyệt kết quả nghiên cứu (từ năm 2009). Trên cơ sở đó UBND tỉnh Đồng Nai đã triển khai việc điều chỉnh quy hoạch xây dựng và triển khai các bước để hình thành Dự án.

Mặc dù trong Báo cáo đánh giá tác động dòng chảy, Tư vấn lập báo cáo và Tư vấn thẩm tra đều kết luận: việc xây dựng các công trình lấn sông ở khu vực từ Cầu Hóa An đến Cầu Ghềnh theo các phương án lấn sông 50m, 75m và 100m không làm thay đổi đáng kể về chế độ thuỷ lực của dòng chảy đoạn sông, không làm ảnh hưởng xấu đến sự thay đổi dòng chảy và tác động đến các đoạn bờ lân cận, nhưng trong phần kiến nghị, Tư vấn lập Báo cáo đánh giá tác động dòng chảy cũng cho rằng kết quả tính toán mới dừng ở mức sơ bộ, cần tiếp tụcnghiên cứu thêm.

Bên cạnh đó, khi thẩm tra Báo cáo đánh giá tác động dòng chảy, Viện Thủy lợi và Môi trường thuộc Trường Đại học Thủy lợi đã nhận xét: "Các kết quả tính toán của đơn vị tư vấn mới dừng ở mức nghiên cứu sơ bộ, chưa đưa ra cơ sở, luận cứ lựa chọn phương án tính toán, phần thuyết minh tính toán bằng mô hình cần làm rõ cụ thể theo các bước thực hiện, từ việc xác định lưới, xây dựng miền địa hình tính toán, xác định các điều kiện ban đầu và điều kiện biên, hiệu chỉnh xác định bộ thông số mô hình và kiểm định mô hình. Trên cơ sở đó mới có luận cứ khoa học để đánh giá tính khả thi của các phương án đưa ra. Vì vậy, đơn vị thẩm định đề nghị cần tiếp tục nghiên cứu để nâng cao độ chính xác và các phương án tính toán kiểm tra thêm khi đi vào xây dựng công trình".

Như vậy, việc dựa vào kết luận của Báo cáo đánh giá tác động dòng chảy để triển khai thực hiện Dự án là chưa đủ cơ sở khoa học tin cậy.

Trong quá trình chuẩn bị đầu tư và phê duyệt Dự án, Chủ đầu tư đã tổ chức lập Báo cáo đtm của Dự án, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai tổ chức thẩm định, trình UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt (tháng 5 năm 2014), trên cơ sở đó UBND tỉnh Đồng Nai đã chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án (tháng 7 năm 2014). Mặc dù Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án cũng đã đánh giá, dự báo bổ sung về những tác động chính đến chế độ dòng chảy sông Đồng Nai của việc xây dựng kè, nhưng còn sơ sài. Những vấn đề về đặt bài toán, giải bài toán và số liệu đầu vào như đã nêu trên vẫn chưa được bổ sung, hoàn chỉnh, chưa đáp ứng yêu cầu.

Ba là, một số đề xuất, kiến nghị

Dự án thực chất có 02 nội dung gồm cải tạo cảnh quan dọc sông Đồng Nai và phát triển đô thị trên phần đất lấn sông. Theo Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 phường Quyết Thắng được phê duyệt năm 1997, toàn bộ khu vực bờ sông Đồng Nai đoạn qua khu trung tâm lịch sử của thành phố Biên Hòa (kéo dài khoảng 2,7km từ cầu Hóa An đến cầu Ghềnh) được quy hoạch thành khu cảnh quan ven sông, bao gồm việc xây dựng kè bảo vệ bờ sông. Năm 2005, Ủy ban nhân dân tỉnh đã giao Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu các dự án bờ kè, công viên từ cầu Hóa An đến cầu Rạch Cát. Từ năm 2008, UBND tỉnh Đồng Nai bổ sung mục đích phát triển đô thị ven sông bên cạnh việc kè bờ và xây dựng công viên được hình thành từ trước đó.

Hiện nay, dư luận quan tâm chủ yếu đến nội dung lấn sông để phát triển đô thị. Như đã trình bày ở phần trên, việc lấn sông để phát triển đô thị sẽ có những tác động đến dòng chảy, mức độ tác động tùy thuộc vào kết quả nghiên cứu tiếp theo. Để đảm bảo tính khách quan và khoa học của Dự án, làm cơ sở quyết định việc tiếp tụcthực hiện hay dừng Dự án, Bộ Tài nguyên và Môi trường kính đề nghị Thủ tướng Chính phủ:

1. Chỉ đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai tiếp tục dừng thực hiện Dự án.

2. Giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan thẩm định lại đtm của Dự án, đặc biệt là vấn đề thoát lũ, lưu thông dòng chảy, bồi lắng, sạt, lở lòng, bờ bãi sông.

Bao giờ giải quyết được vấn đề ô nhiễm ở các cụm công nghiệp,khu công nghiệp

Việc xử lý ô nhiễm của toàn bộ lượng nước thải các khu công nghiệp không hề đơn giản trong khi đó thành phố Hà Nội đang nỗ lực hết sức hướng tới mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 các khu công nghiệp , cụm công nghiệp và các khu chế xuất, cả các khu công nghệ cao đều phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung.

Hướng đi trước mắt

Nghị quyết số 18/2012/NQ-HĐND (ngày 7-12-2012) của HĐND TP Hà Nội về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 đã nêu rõ chỉ tiêu số 21. Cụ thể, tỷ lệ CCN có trạm xử lý nước thải cụm công nghiệp đạt tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng: Đối với CCN xây dựng mới là 100%; đối với các CCN đã đi vào hoạt động là 50%. Trên cơ sở đó, Sở Công thương Hà Nội đã trình UBND thành phố triển khai kế hoạch đầu tư xây dựng hệ thống nước thải tập trung tại 14 CCN năm 2013 để đạt được tỷ lệ 21/42 (chiếm 50%) CCN đã đi vào hoạt động có hệ thống xử lý nước thải khu công nghiệp tập trung bởi vì đến nay, 7 CCN đã đạt tiêu chí này.




Theo kế hoạch, năm 2013, Hà Nội đặt ra mục tiêu xây dựng hệ thống XLNT tại 4 CCN Kim Chung, Phú Thị, Bình Phú, Hai Bà Trưng và dự kiến sẽ đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải công nghiệp tại 10 CCN theo đề án đầu tư xây dựng hệ thống XLNT tập trung sau khi được UBND thành phố phê duyệt. Sở Công thương đã tiến hành kiểm tra, khảo sát và làm việc với UBND 4 quận, huyện. Kết quả, chủ đầu tư hai cụm Phú Thị (Gia Lâm), Bình Phú (Thạch Thất) vẫn đang thực hiện giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Riêng cụm Hai Bà Trưng, đề nghị không triển khai do đã có chủ trương chuyển đổi công năng và không còn quỹ đất. CCN Kim Chung (Hoài Đức) được đề nghị chuyển đổi sang xây dựng tại CCN Lại Yên.

Hiện tại, 5 CCN đã xây dựng hệ thống XLNT là Hà Bình Phương (công suất 500m3/ngày đêm), thị trấn Phùng (công suất 400m3/ngày đêm), Ngọc Hồi (công suất 1.800m3/ngày đêm), Duyên Thái (công suất 250m3/ngày đêm) và Từ Liêm (công suất 3.500m3/ngày đêm). Và chỉ có 7 CCN đang xây dựng hệ thống XLNT tập trung nhưng đang gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn, tiến độ triển khai chậm, chi phí vận hành lớn và khả năng thu hồi vốn sau đầu tư khó.

Ông Ngô Thái Nam, Phó Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường Hà Nội, cho biết trong tổng số 101 CCN trên địa bàn hiện nay, có tới 28 CCN có quy hoạch hệ thống xử lý nước thải khu công nghiệp nhưng chưa triển khai đầu tư xây dựng và còn tận 61 CCN không quy hoạch hệ thống xử lý nước thải. Đáng lưu ý, trong số 61 CCN không quy hoạch hệ thống xử lý nước thải thì có tới 49 CCN không còn quỹ đất mở rộng để xây dựng bổ sung trạm xử lý nước thải công nghiệp tập trung. Rõ ràng, nếu không có hướng thoát cho 61 CCN này thì tình hình ô nhiễm nước sẽ tiếp tục diễn ra.

Riêng đối với các CCN, UBND TP đã chỉ đạo xây dựng đề án đầu tư xây dựng hệ thống XLNT tập trung tại các CCN trên địa bàn thành phố giai đoạn 2012 - 2015. Lộ trình dự kiến là: Năm 2012 - 2013, tập trung chỉ đạo 10 CCN và 24 cụm tiểu thủ công nghiệp (dự án đã được phê duyệt); năm 2013 - 2014, tập trung chỉ đạo 11 CCN và 8 cụm tiểu thủ công nghiệp; năm 2014 - 2015, tập trung chỉ đạo 9 CCN và 13 cụm tiểu thủ công nghiệp.

Ông Nam cho rằng, sau khi phân loại, tách bạch được hiện trạng hệ thống XLNT của các CCN, việc tìm ra hướng tháo gỡ là tương đối dễ dàng. Đối với các CCN đã có quy hoạch và có quỹ đất để xây dựng hệ thống XLNT, thành phố và các cơ quan chức năng sẽ tập trung đôn đốc, chỉ đạo chủ đầu tư (CĐT) xây dựng và kinh doanh hạ tầng CCN thực hiện ngay việc xây dựng hệ thống XLNT tập trung. Đối với các CCN không có quy hoạch hệ thống XLNT, không còn quỹ đất để xây dựng hệ thống XLNT, các cơ quan chức năng sẽ yêu cầu CĐT xây dựng và kinh doanh hạ tầng CCN lập phương án điều chỉnh, bổ sung, bố trí phù hợp để có quỹ đất xây dựng trạm XLNT.

Còn đối với CCN không thể bố trí được quỹ đất để xây dựng hệ thống XLNT theo quy định, cơ quan chức năng sẽ xem xét việc chuyển đổi chức năng, chuyển đổi vị trí hoặc quy hoạch lại theo quy định. Trong khi chờ việc chuyển đổi này thành hiện thực, để kiểm soát ô nhiễm của các DN tại các CCN không thể bố trí được quỹ đất để xây dựng hệ thống XLNT, trước mắt, chỉ còn mỗi cách là quản lý chặt theo từng DN ngay tại nguồn xả thải. Đồng thời, DN sản xuất trong các CCN có trách nhiệm cam kết lại việc xử lý nước thải khu công nghiệp đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường trước khi xả ra môi trường.

Giải pháp lâu dài

Ông Ngô Thái Nam nhận định, qua những lần thanh tra, kiểm tra định kỳ, thực tế là nhận thức chung về môi trường của các DN tuy đã tốt hơn nhưng vẫn còn hạn chế và công tác xử lý ô nhiễm môi trường chỉ mang tính chất đối phó. Nhiều cơ sở đã thực hiện những nội dung và yêu cầu tại quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, bản cam kết bảo vệ môi trường, bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, đề án bảo vệ môi trường và trách nhiệm của chủ nguồn thải chất thải nguy hại nhưng chưa đúng và chưa đầy đủ theo quy định. Thêm vào đó, chi phí đầu tư xây dựng hệ thống XLNT thường lớn hơn rất nhiều so với các hạng mục khác, trong khi mục tiêu của các DN là giảm suất đầu tư nhằm thu hút các DN thứ phát nên việc đầu tư cho hệ thống XLNT thường bị lờ đi. Ngoài ra, trong tình hình kinh tế còn ảm đạm, phần lớn các CCN thường chậm tiến độ xây dựng hệ thống XLNT do gặp khó khăn trong khâu GPMB và vốn đầu tư.

Trước thực trạng vẫn gây ô nhiễm ở các CCN và KCN, thời gian tới, UBND thành phố tập trung yêu cầu và giám sát các đơn vị CĐT hạ tầng KCN xây dựng, hoàn thiện trạm xử lý nước thải khu công nghiệp tập trung cũng như hạ tầng kỹ thuật trong KCN để 100% các DN có thể đấu nối vào hệ thống XLNT tập trung. Việc này nếu làm được sẽ bảo đảm nước thải của các DN trong KCN phải được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi xả vào hệ thống thoát nước chung. Tiếp đến, tại trạm XLNT tập trung, các DN có trách nhiệm lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động theo đúng quy định.

Đặc biệt, nhằm giải quyết những vướng mắc điển hình tại KCN Quang Minh, các cơ quan hữu quan sẽ nghiên cứu ban hành mức thu phí xử lý nước thải trong KCN có trạm xử lý nước thải tập trung. Đây chính là cơ sở để CĐT hạ tầng KCN giải quyết những mâu thuẫn tồn đọng với các DN đã sản xuất từ trước khi KCN hình thành. Đồng thời, các cơ quan chức năng sẽ nghiên cứu ban hành định mức thu phí dịch vụ tiện ích công cộng làm cơ sở cho CĐT hạ tầng CCN quản lý, duy tu bảo dưỡng, chỉnh trang hạ tầng CCN để tránh trường hợp xả thải tự do như trước đây.

Về lâu dài, để giải quyết triệt để thực trạng gây ô nhiễm tại các KCN và CCN, việc xây dựng, phát triển các khu, CCN trong thời gian tới phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, trong đó công tác bảo vệ môi trường phải được quan tâm hàng đầu. Các cơ sở sản xuất trong khu dân cư gây ô nhiễm môi trường khiến người dân bức xúc sẽ được di dời vào các KCN, CCN đã được đầu tư hạ tầng nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường. Đặc biệt, UBND thành phố sẽ xem xét chặt chẽ và không cấp phép hoạt động cho những KCN, CCN chưa được đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.

Để tránh việc quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tại các CCN còn chồng chéo, UBND thành phố khuyến khích việc chuyển đổi đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng các CCN do UBND cấp huyện, cấp xã đang làm sang CĐT là các DN theo đúng quy định tại Quyết định số 44/2010/QĐ-UBND (ngày 10-9-2010) của UBND TP Hà Nội về việc ban hành quy định quản lý CCN trên địa bàn thành phố.

Đặc biệt, UBND thành phố đã chỉ đạo các sở, ban, ngành nghiên cứu, tham mưu đề xuất để ban hành quy định về quản lý môi trường trong các khu, CCN bảo đảm rõ ràng về trách nhiệm, tránh chồng chéo. Ngoài ra, ông Nam cho rằng, ở góc độ cơ quan theo dõi trực tiếp về vấn đề ô nhiễm, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội sẽ tăng cường công tác kiểm tra, quan trắc chất lượng môi trường định kỳ, cũng như đột xuất để phát hiện và xử lý kịp thời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường. Riêng đối với những cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ngoài việc xử lý nghiêm theo quy định, trong trường hợp cần thiết, cơ quan chức năng sẽ áp dụng biệp pháp đình chỉ hoạt động.

Khi mà những nỗ lực của các cơ quan chức năng chưa đủ, nhận thức bảo vệ môi trường của các DN còn hạn chế, cộng với chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe, người dân Hà Nội vẫn đang mong chờ một giải pháp tổng thể để có thể giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường nói chung và nguồn nước thải nói riêng ở các KCN và CCN.

Cuộc sống khốn khổ của người dân cạnh mỏ than Khánh Hòa

Mỏ than Khánh Hòa là một trong những mỏ than lớn nhất cả nước nhưng đi kèm với đó là những hệ lụy mà mỏ than gây ra cho hàng nghìn hộ dân ở Tp. Thái Nguyên và huyện Đại Từ thuộc tỉnh Thái Nguyên hàng chục năm nay như sụt lún đất đai, nhà cửa, ruộng vườn, mất nước sinh hoạt, ngập ngụa khói bụi, khí độc.



Núi than thải của mỏ than Khánh Hòa vừa gây ô nhiễm môi trường vừa tiềm ẩn nguy cơ vùi lấp người dân bất cứ lúc nào. (Ảnh: Đại Đoàn Kết)

Ngắc ngoải vì khói bụi

Từ khi mỏ than Khánh Hòa đi vào hoạt động cũng là thời gian mà người dân xã Phúc Hà (TP. Thái Nguyên) phải sống chung với ô nhiễm từ hoạt động khai thác, vận chuyển than gây ra. Đi khắp các đường làng, ngõ xóm ở xã Phúc Hà, đâu đâu cũng thấy một màu đen kịt. Than bám vào nhà cửa, cây cối và bay lờ vờ trong không trung. Tại đây, hàng ngày có hàng nghìn xe trọng tải lớn vận chuyển đất đá, than chạy ầm ầm cày nát các con đường, gây tiếng ồn và bụi than. Bởi vậy, các đường rẽ vào xã Phúc Hà lầy lội, dày đặc bùn than nhem nhuốc.

Dân sống xung quanh mỏ than Khánh Hòa không chỉ ngắc ngoải trong khói bụi từ hoạt động khai thác than mà còn thiếu nước sạch sinh hoạt nghiêm trọng. Do các mỏ khai thác than lộ thiên, ăn sâu vào lòng đất hút hết nguồn nước ngầm nên các giếng khơi, giếng khoan của người dân cạn kiệt nước. Người dân phải mua nước sạch với giá cao ở nơi khác về dùng. Không chỉ vậy, nhà cửa, ruộng vườn của người dân xung quanh mỏ than còn có hiện tượng sụt lún, nứt nẻ khiến người dân hết sức hoang mang.

Không chỉ có vậy, những điểm cháy ngầm tại khu vực bãi thải than khổng lồ cũng đang ngày đêm “hành hạ” người dân xã Phúc Hà. Theo người dân xóm 12, xã Phúc Hà, các điểm cháy ngầm tại bãi thải than phía nam đã cháy liên tục hàng chục năm trời. Khói và khí thải độc hại tuôn ra nghi ngút bao trùm cả khu vực rộng lớn khiến không khí luôn đặc quánh làm người dân khó thở, tức ngực. Trong làng đã có rất nhiều người chết trẻ liên quan đến các bệnh hiểm nghèo, nhất là bệnh ung thư.

Để tìm hiểu thực tế, chúng tôi đã luồn lách qua khe núi, để thâm nhập vào bãi than cháy ngầm. Một khu vực rộng lớn khói từ núi than thải bốc lên khét lẹt, muốn bóp ngẹt lá phổi. Điểm than cháy ngầm rộng lớn nhưng tại đây chỉ có một trạm bơm bé tẹo để tưới nước chữa cháy. Dòng nước tưới thì nhỏ trong khi khu vực cháy ngầm thì lớn khiến công tác chữa cháy tại đây như “muối bỏ bể” không đem lại hiệu quả chữa cháy.
Theo quan sát của chúng tôi, một mối “ẩn họa” nữa đang đe dọa tính mạng người dân Phúc Hà là từ các núi than thải của mỏ than Khánh Hòa. Các bãi than thải của mỏ than Khánh Hòa được bồi đắp nhiều năm cao sừng sững như ngọn núi khổng lồ. Ngọn núi này áp sát khu dân cư, nguy cơ sạt lở vùi lấp nhà dân bất cứ lúc nào. Hơn nữa, mỏ than thải khổng lồ này sát con đường chính nối từ Phúc Hà ra trung tâm TP. Thái Nguyên mà không hề có hệ thống che chắn. Hàng ngày, hàng nghìn người phải liều mình đi qua núi thải mà không biết tai họa sẽ ập xuống lúc nào.

Chính quyền cũng… bó tay

Không chỉ người dân Phúc Hà khốn khổ mà người dân xã An Khánh (huyện Đại Từ) cũng chịu chung số phận. Bãi thải than tại đây không ngừng được mở rộng khiến môi trường cũng bị ô nhiễm chẳng biết kêu ai. Được biết, trong hai năm 2013-2014, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên đã nhiều lần tiến hành kiểm tra, giám sát việc bảo vệ môi trường đối với mỏ than Khánh Hòa và phát hiện nhiều tồn tại. Cụ thể, mỏ than Khánh Hòa đang thực hiện đầu tư nâng công suất khai thác lên 800.000 tấn/năm. Tuy Dự án chưa được phê duyệt, kể cả báo cáo đánh giá tác động môi trường, nhưng ngay trong năm 2013 Công ty đã khai thác than với sản lượng trên 700.000 tấn/năm (công suất được cấp phép là 600.000 tấn/năm). Việc tăng công suất khai thác đồng nghĩa với việc gia tăng mức độ tác động ảnh hưởng đến môi trường. Dù mỏ than Khánh Hòa đã áp dụng nhiều biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nhưng đất đá, than thải vẫn rơi vãi dọc các tuyến đường trong khu vực gây ô nhiễm bụi. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên còn phát hiện bãi thải Tây đã đổ lấn ranh giới khoảng cách an toàn Chùa Làng Ngò nhưng chưa được phê duyệt đtm. Không những thế, mỏ than còn nắn suối Làng Ngò để mở rộng khai trường gây ngập lụt khiến việc canh tác và sinh hoạt của người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Theo người dân Làng Ngò: Tại đây, có đến 90% đất canh tác của bà con đã dành cho khai trường của mỏ than Khánh Hòa, giờ đến nước sinh hoạt, nước canh tác cũng bị mất.

Trao đổi với phóng viên về tình trạng này, ông Nguyễn Đức Nhất- Phó chủ tịch UBND xã Phúc Hà thừa nhận, mỏ Than Khánh Hòa gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến người dân địa phương là có thật. Chính quyền xã đã mời Công ty Than Khánh Hòa xuống làm việc nhiều lần, yêu cầu Công ty Than Khánh Hòa giải quyết nhưng nay vẫn chưa giải quyết dứt điểm được. Cũng theo ông Nhất, người dân cũng liên tục phản ánh việc có nhiều người bị bệnh ung thư, viêm phổi, ảnh hưởng về đường hô hấp…

Bà Hoàng Thị Liên- Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Thái Nguyên cũng thừa nhận, Mỏ than Khánh Hòa là một điểm nóng về ô nhiễm. Họ có khắc phục nhưng do tính chất hoạt động khai thác than gây ra tác động quá lớn nên chưa giải quyết được triệt để. Do vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường nên ngành chức năng Thái Nguyên đã nhiều lần xử phạt Công ty Khánh Hòa. Cũng theo bà Liên, để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường ở mỏ than Khánh Hòa, Chi cục Bảo vệ môi trường đã có nhiều biện pháp kiểm tra, xử lý vi phạm, nhưng thẩm quyền của Chi cục Bảo vệ môi trường chỉ có giới hạn nhất định, muốn giải quyết triệt để phải có cả một chủ trương, quy hoạch và sự vào cuộc của tất cả các ngành chức năng.

Dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A không thực sự an toàn cho môi trường

Hai dự án thủy điện Đồng Nai là 6 và 6A được làm báo cáo đánh giá tác động môi trường khá chi tiết và kỹ lưỡng tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập xung quanh bản BCĐGTĐMT này.
Hội đông thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đã có cuộc họp báo về vấn đề kỹ thuật đối với 2 dự án thủy điện Đồng Nai vào ngày 28-11, tại Hà Nội.

Bỏ lọt nhiều điểm quan trọng

TS Đào Trọng Tứ, Ủy viên Thường trực Mạng lưới Cộng tác vì nước của Việt Nam, Ủy viên Ban Cố vấn Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam (VRN), cho biết nội dung chính của cuộc họp là chủ đầu tư trình bày tóm tắt nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường của ĐN 6 và 6A. Sau đó, các thành viên hội đồng thẩm định góp ý ban đầu về những điểm còn nghi vấn, thắc mắc. “ĐTM của ĐN 6 và 6A được làm khá công phu nhưng theo định hướng của nhà đầu tư và nhiều khía cạnh đã bị bỏ qua” - ông Tứ nói.

Theo TS Đào Trọng Tứ, hội đồng thẩm định đã đề nghị chủ đầu tư làm rõ thêm khá nhiều vấn đề trọng tâm như báo cáo đánh giá tác động môi trường cần làm rõ tác động môi trường của ĐN 6 và 6A đến sông Đồng Nai và Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên...; các phương án giải quyết sinh kế của người dân, đặc biệt là động đất kích thích.
Một nhóm cán bộ khoa học khảo sát Vườn Quốc gia Cát Tiên. Ảnh: TĂNG A PẨU

GS-TSKH Nguyễn Ngọc Lung, chuyên gia lâm nghiệp, nhận định báo cáo đánh giá tác động môi trường này vẫn còn nhiều nghi vấn. Ông Lung đặt một loạt câu hỏi cho nhà đầu tư như: “Tại sao lại dọn lòng hồ có 50% số cây rừng? Tại sao đường dây tải điện lại không nằm trong dự án này, nó ảnh hưởng đến rừng như thế nào? Dòng sông Đồng Nai có 13 nhà máy thủy điện, Chính phủ đã có chỉ thị về vận hành liên hồ chứa, mỗi hồ phải làm theo quy trình chung, người trên xả mà người giữa không xả thì bị vỡ đập ngay, tính chất cắt lũ không còn nữa. Vì thế, phải có quy trình liên hồ chứa. Hiện nay, ĐN 6 và 6A không nằm trong danh sách vận hành liên hồ chứa, vậy chủ đầu tư xử lý vấn đề này như thế nào?

Chưa đủ điều kiện để thông qua

Trong bản nhận xét gửi tới hội đồng thẩm định, TS Tô Văn Trường, chuyên ngành tài nguyên nước và môi trường, ủy viên hội đồng thẩm định, cho rằng báo cáo đánh giá tác động môi trường của ĐN 6 và 6A đã có cải thiện so với trước. Tuy nhiên, các mặt tồn tại phải được nghiên cứu bổ sung và giải trình cụ thể. Đặc biệt, phần tính toán mô hình thủy văn, thủy lực không đủ độ tin cậy.
Theo ông Trường, ĐN 6 sử dụng 77,36 ha đất của VQG Cát Tiên và 77,99 ha đất của rừng phòng hộ đầu nguồn; ĐN 6A sử dụng 59,62 ha đất của VQG Cát Tiên và 157,26 ha đất của rừng phòng hộ đầu nguồn - đều lớn hơn so với mức quy định 50 ha tại mục b khoản 2 điều 3 Nghị quyết số 49/2010 của Quốc hội về những dự án phải lập báo cáo đầu tư trình Quốc hội xem xét quyết định về chủ trương đầu tư.

Vị trí nhà đầu tư dự kiến xây dựng 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A. Đồ họa: PHƯƠNG ANH

Bên cạnh đó, 2 dự án thủy điện này đều có trong các quy hoạch đã được duyệt nhưng không phải là quy hoạch quốc phòng, an ninh; còn VQG Cát Tiên thuộc quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học nên theo quy định tại mục d khoản 2 điều 11 của Luật Đa dạng sinh học phải được ưu tiên thực hiện. Ngoài ra, Quyết định số 1419/TTG ngày 27-9-2012 Thủ tướng Chính phủ đã xếp VQG Cát Tiên vào hạng Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt được bảo vệ, giữ gìn theo Luật Di sản Văn hóa và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa. “Báo cáo đánh giá tác động môi trường của ĐN 6 và 6A chưa đủ điều kiện để Hội đồng thẩm định xem xét, thông qua” - TS Trường nhận định.

Sau khi nghe ý kiến của các bên, ông Mai Thanh Dung, Cục trưởng Cục Thẩm định - Tổng cục Môi trường Bộ Tài nguyên - Môi trường (TN-MT), kết luận: “Chủ đầu tư và tư vấn phải tiếp tục hoàn thiện báo cáo đánh giá tác động môi trường để làm rõ các vấn đề mà các thành viên hội đồng thẩm định đã nêu ra tại cuộc họp cũng như những tồn tại của nó”.

Công khai danh tính 3 cán bộ bị đình chỉ công tác trong vụ

Sau đợt thanh tra vừa qua, Tp Hà Nội sẽ công khai kết quả của vụ việc chặt hạ cây xanh trên địa bàn thủ đô theo chỉ đạo của chủ tịch UBND Thành Phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo trong cuộc họp sáng ngày 22/3. Trước đó vào ngày 2T3 thì UBND Tp Hà Nội đã có văn bản báo cáo thủ tướng về vụ việc vừa rồi.

Chiều 24/3, tại cuộc họp giao ban báo chí Thành ủy Hà Nội, ông Phan Đăng Long, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, cho biết: Đoàn thanh tra sẽ trả lời rõ các câu hỏi mà dư luận quan tâm, mà đến thời điểm này vẫn chưa có câu trả lời như: Số cây chặt hạ thu gỗ, vậy số gỗ đó h ở đâu? Cây mới trồng tại đường Nguyễn Chí Thanh là gỗ mỡ hay vàng tâm? Có lợi ích nhóm trong việc thay thế, cải tạo cây xanh hay không? Sai ở đâu? Ai chịu trách nhiệm?...

“Bước đầu Thành ủy Hà Nội nhận định việc thay thế, cải tạo cây xanh gây bức xúc chủ yếu là do khâu tổ chức thực hiện, triển khai vội vàng, không đo lường được tình cảm, sự quan tâm của người dân… ”, ông Long nói.


Cùng chiều qua, Sở Xây dựng đã công khai danh tính ba cán bộ bị tạm đình chỉ công tác do liên quan đến việc thay thế, cải tạo cây xanh trên địa bàn, gồm các ông: Trần Trọng Hiếu, Trưởng phòng Quản lý hạ tầng môi trường và công trình ngầm; ông Trịnh Văn Lý, Phó Trưởng phòng Quản lý hạ tầng môi trường và công trình ngầm; ông Lê Trung Ngọc, cán bộ Phòng Quản lý hạ tầng môi trường và công trình ngầm.Việc đình chỉ này để các cán bộ trên thực hiện kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong việc cải tạo, thay thế cây xanh đô thị tại một số tuyến phố trên địa bàn.

Cùng ngày, trao đổi với chúng tôi về việc chặt hàng cây to trên đường Trần Phú - Nguyễn Trãi, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Môi trường Mai Thanh Dung cho biết: Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của dự án đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông chúng tôi đã thẩm định cách đây vài năm. Theo phương án trước đây, không có việc chặt cả hàng cây to trên đường Nguyễn Trãi - Trần Phú. Thường nếu có thì người ta đã chặt cây ngay từ đầu để tạo hành lang thi công.

“Theo quy định, khi có gì thay đổi về báo cáo đánh giá tác động môi trường ĐTM thì phải báo cáo cho cơ quan đã phê duyệt báo cáo tác động môi trường để cơ quan này có ý kiến. Nếu việc chặt cây gắn với dự án thì việc này phải báo cáo với cơ quan đã phê duyệt ĐTM”, ông Dung nói.

Tuy nhiên, theo ông Dung, đơn vị này đã không hề nhận được báo cáo bổ sung này.

“Có thể người ta lại lợi dụng việc làm đường sắt trên cao để chặt cây. Trong báo cáo đánh giá tác động môi trường không có việc chặt cả hàng cây xanh trên đường Nguyễn Trãi - Trần Phú, nếu vin vào dự án này để chặt bỏ cả hàng cây này là sai”, ông Dung nói.

Ông Dung cho rằng: “Trong việc chặt cây này là “có chuyện” khi gần đây có thông tin là chặt mỗi cây chi phí nhiều chục triệu đồng, chưa tính đến tiền gỗ thu được. Qua đó thấy rằng chắc chắn có việc lạm dụng việc chỉnh trang cây xanh để phá môi trường, phá cây xanh”.

“Một tuyến đường cần có hành lang an toàn, nhất là đường sắt trên cao. Tuy nhiên, nếu hàng cây nằm ngoài hành lang an toàn thì không có lý do gì để chặt. Để bảo vệ hành lang an toàn thì người ta có thể hạ thấp chiều cao của cây nếu thấy cần thiết. Đó là một giải pháp. Trong nhiều dự án làm đường, làm đô thị nếu nơi thực hiện dự án đã có cây xanh, người ta thường hạn chế tối đa việc chặt cây”, ông Dung nói.

Quan trên vi phạm dân tình khốn đốn


Mới đây hàng loạt người dân đổ đất đá dựng lều bạt , đặt bát hương trước khu vực cổng công ty trách nhiệm hữu hạn Thiên Lộc , cũng chính vì việc coi thường sức khỏe người lao động của doanh nghiệp kết hợp với việc làm sai thẩm quyền chức năng của chính quyền phường Phả Lại - PV đưa tin.


Tại cuộc làm việc với phía công ty TNHH Thiên Lộc chiều 21-10, ông Phạm Đức Bình - Trưởng phòng hành chính (nguyên là cán bộ nhiều năm của CTCP đầu tư và xây dựng số 18) thừa nhận: CTCP đầu tư và xây dựng số 18 sản xuất tấm lợp AC gây ô nhiễm môi trường do nhà xưởng và công nghệ khi đó lạc hậu; không có khu xử lý nước thải… do vậy mà phía đơn vị bị nhân dân khu dân cư Ngọc Sơn, phường Phả Lại gửi đơn thư kiến nghị... Đến năm 2011 đơn vị cũ không sản xuất nữa, bán lại toàn bộ nhà xưởng, dây chuyền sản xuất cho công ty TNHH Thiên Lộc… Sau đó, công ty TNHH Thiên Lộc có văn bản đề nghị UBND phường Phả Lại cho phép chạy thử dây chuyền sản xuất từ ngày 14-10 đến 25-10. UBND phường Phả Lại đã đồng ý cho công ty Thiên Lộc chạy thử trong 5 ngày từ 14-10 đến 19-10. Chiều 14-10, khi công ty TNHH Thiên Lộc sản xuất thử, thì hàng trăm người dân đã đến yêu cầu dừng hoạt động, sau đó đổ đất đá, dựng lều bạt trước cổng công ty.


Dây chuyền sản xuất tấm lợp phi-brô-xi-măng mới được công ty TNHH Thiên Lộc
nâng cấp từ dây chuyền cũ của CTCP đầu tư và xây dựng số 18



Cũng theo ông Bình, Dự án được cơ quan chức năng cho phép sản xuất (!?). UBND tỉnh cũng đã chấp thuận cho công ty Thiên Lộc sử dụng lại báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) cũ của Xí nghiệp liên doanh sản xuất tấm lợp A-C Phả Lại Đông Anh III được lập vào năm 1997.


Ngày 23-10, PV có cuộc trao đổi qua điện thoại với ông Nguyễn Đình Kiêm - Giám đốc Sở Tài nguyên- Môi trường tỉnh Hải Dương, ông Kiêm khẳng định, chiều 14-10 phía công ty TNHH Thiên Lộc có mời đại diện lãnh đạo sở về dự khánh thành nhà máy. Lãnh đạo Sở cử cán bộ cấp dưới về dự. Khi sự việc xảy ra cán bộ có mặt tại hiện trường đã báo cáo lại sự việc và phía Sở đã đề nghị thị xã Chí Linh yêu cầu phía công ty dừng ngay hoạt động sản xuất. Việc tiến hành chạy thử, doanh nghiệp phải xin cấp phép của UBND tỉnh. UBND tỉnh đồng ý cho phép mới được tiến hành.


Khi được hỏi về việc công ty TNHH Thiên Lộc tiến hành sản xuất từ ngày 16 đến 21-9 phía Sở có biết không? Ông Kiêm trả lời: Sở không hề biết. Nếu có việc đó thì phía công ty TNHH Thiên Lộc đã sai phạm.


Ông Phạm Đức Bình- Trưởng phòng hành chính (công ty TNHH Thiên Lộc) giải thích cho PV về dây chuyền sản xuất tấm lợp phi-brô-xi-măng của nhà máy



Liên quan đến việc UBND phường Phả Lại cấp phép cho công ty Thiên Lộc chạy thử dây chuyền sản xuất, quy trình trả lời đơn thư phản ánh của nhân dân về vấn đề ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của nhân dân và sử dụng lại ĐTM của đơn vị trước, ông Vũ Đình Hiền - Chi Cục trưởng Chi cục bảo vệ môi trường tỉnh Hải Dương cho biết: UBND phường Phả Lại không có chức năng cấp phép cho đơn vị Thiên Lộc sản xuất tấm lợp AC chạy thử. Việc họ cấp phép cho công ty Thiên Lộc là việc làm sai phạm, không đúng thẩm quyền, không đúng chức năng. Theo quy định của pháp luật, bất kỳ một đơn vị sản xuất kinh doanh nào liên quan đến vấn đề môi trường, ảnh hưởng tới cuộc sống của nhân dân, sau khi được cơ quan có thẩm quyền cấp phép mới được chạy thử. Quá trình chạy thử phải được sự giám sát của cơ quan có chức năng, để đánh giá các thông số về bụi, khí thải và nước thải; giám sát của nhân dân và chính quyền sở tại. Nếu các thông số về môi trường vượt quá mức cho phép sẽ yêu cầu đơn vị dừng sản xuất.


Vấn đề giải quyết đơn thứ kiến nghị của nhân dân liên quan đến vấn đề môi trường, sức khỏe… ông Hiền cho rằng, phía UBND phường Phải Lại nhận được đơn của nhân dân, phải xác định nội dung trong đơn. Việc nào thuộc thẩm quyền của phường thì phường giải quyết, trả lời nhân dân; việc nào không thuộc thẩm quyền phải làm công văn báo cáo gửi lên cơ quan có chức năng và có thẩm quyền giải quyết.

Đơn cử về vấn đề ô nhiễm, ít nhất phải là cơ quan cấp tỉnh như: CSĐT tội phạm về môi trường, Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Hải Dương; còn về sức khỏe của nhân dân phải là cơ quan y tế… Trong khi đó, phía UBND phường Phả Lại đã không thực hiện đúng quy trình giải quyết… đơn thư, vụ việc. Thêm vào đó, phía chính quyền phường đứng ra giải quyết “hộ” đơn kiến nghị của nhân dân gửi tới công ty TNHH Thiên Lộc.


Riêng về việc công ty TNHH Thiên Lộc sử dụng lại ĐTM của Xí nghiệp liên doanh tấm lợp Phả Lại- Đông Anh 3 (sau này đổi thành CTCP đầu tư và xây dựng số 18), ông Hiền cho biết, theo Nghị định 29 quy định: Nếu công nghệ không thay đổi, công suất không thay đổi thì cơ quan chức năng cho phép đơn vị mới tiếp quản đơn vị cũ được sử dụng đánh giá môi trường ĐTM của đơn vị cũ đó. Nhưng với điều kiện đơn vị mới phải nâng cấp nhà máy, sửa chữa máy móc, trang thiết bị… bảo đảm với quy chuẩn hiện hành, không gây ô nhiễm môi trường, không ảnh hưởng tới sức khỏe của nhân dân chung quanh khu vực nhà máy sản xuất…


Sản phẩm tấm lợp phi-brô-xi-măng xếp đầy trong sân nhà máy, sau lần chạy thử “không phép” từ ngày 16 đến ngày 21-9



Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng báo cáo đánh giá tác động môi trường ĐTM, đáp ứng yêu cầu của thực tế quản lý môi trường, Luật Bảo vệ Môi trường 1993 đã có nhiều sửa đổi bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực tế. Tại Điều 20, Luật Bảo vệ môi trường 2005 quy định bắt buộc trong hoạt động ĐTM phải tham vấn cộng đồng. Và tại Điều 14, 15 của Nghị định 29/2011/NĐ-CP quy định: Trong quá trình lập báo cáo tác động môi trường ĐTM, chủ dự án phải tổ chức tham vấn ý kiến: UBND xã, phường, thị trấn nơi thực hiện dự án; Đại diện cộng đông dân cư, tổ chức chịu tác động trực tiếp của dự án. Quá trình tham vấn được thực hiện bằng cách "chủ dự án gửi văn bản đến UBND cấp xã, đại diện cộng đông dân cư, tổ chức chịu tác động trực tiếp của dự án kèm theo tài liệu tóm tắt về các hạng mục đầu tư chính, các vấn đề môi trường, các giải pháp bảo vệ môi trường của dự án xin ý kiến tham vấn".


Hiện nay, hầu hết các dự án ở nước ta thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường ĐTM sau khi địa điểm triển khai đã được lựa. Các báo cáo đánh giá tác động môi trường ĐTM chỉ tập trung vào phân tích đặc điểm địa hình, hiện trạng chất lượng môi trường của khu vực dự án và bỏ qua việc đánh giá các tác động cộng hưởng, tác động tích lũy cũng như nguy cơ xảy ra xung đột… Chính vì không chú ý đến đặc thù của địa điểm triển khai dự án nên nhiều ĐTM của các dự án cùng loại hình sản xuất, kinh doanh rất giống nhau, thậm chí có những đoạn "cắt - dán" nguyên bản, không chỉnh sửa, dẫn đến những phản ứng bức xúc từ người dân.